Muối Của Đất
Muối Của ĐấtTư liệu về Chính Thống giáo Đông phương

Một cuộc hành trình
đến Sarov và Diveyevo năm 1927

Ivan M. Andreyev

05.08.2026 40 phút đọc
Đời Sống Tâm Linh

Chuyển ngữ tiếng Việt bởi Gabriel Nguyễn. Tạp chí Orthodox Life (Cuộc Sống Chính Thống) 1982 số 2.


Kể từ sớm trong thời niên thiếu, tôi đã nghe nói nhiều về Tu Viện Sarov và Diveyevo diệu kỳ, nơi Thánh Seraphim linh thiêng, Người Làm Phép Lạ vùng Sarov và toàn Nga, đã tiến hành những cuộc đấu tranh tâm linh của ngài. Tôi đã thường mơ ước về việc đi đến đó, nhưng tôi đã không thể làm được trong một khoảng thời gian dài.

Thánh Seraphim
Thánh Seraphim
Tu Viện Sarov
Tu Viện Sarov
Nữ Tu Viện Seraphim-Diveyevo
Nữ Tu Viện Seraphim-Diveyevo

Có lần, vào hè 1926, vào tháng 7, tình cờ là tôi ở Kiev. Một ngày nọ, tôi đang ngồi trên bờ dòng sông Dnieper, chiêm ngưỡng Đại Tu Viện Hang Động – Kiev. Một vị lữ khách bước đến và bắt đầu trò chuyện với tôi. Ông ta nói rằng ông ấy đang đi khắp các nơi linh thiêng và rằng bây giờ ông ấy đang chuẩn bị rời Kiev để đi ghé thăm Sarov và thánh tích của Thánh Seraphim.

Tu Viện Hang Động-Kiev vào những năm 1880
Tu Viện Hang Động-Kiev vào những năm 1880
Một bản phác thảo Tu Viện Hang Động-Kiev
Một bản phác thảo Tu Viện Hang Động-Kiev

“Ông thật may mắn biết bao,” tôi bảo ông ấy. “Ông sẽ ở tại một nơi linh thiêng đến thế. Tôi đây đã mơ ước được đi đến đó bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa được.”

Rồi vị lữ khách ấy đứng dậy, nhìn tôi chằm chằm, và nói “Tôi tớ Thiên Chúa John1! Anh sẽ ở đó sớm hơn tôi.” Rồi ông ta chúc phúc tôi và rời đi.

Tôi đến Leningrad và phát hiện ra là công việc mới của tôi sẽ chỉ mới bắt đầu vào tháng 9. Một trong những người bạn của tôi khuyên tôi dùng thời gian rảnh này để đi đến Sarov. Tình cờ là tôi có một ít tiền và, ngoài ra, tôi đã nhận một vé miễn phí cho bất kì hành trình nào tại chỗ làm mới của tôi.

Ngày 5 tháng 8 (N.S.)2, tôi đến ga thành phố để xem tôi nên xác nhận vé khi nào – vào ngày khởi hành hay trước đó.

Tôi đã rất buồn vì ngày lễ của Thánh Seraphim (O.S. 19/7; N.S. 1/8) đã qua mất rồi. Bạn tôi an ủi tôi, nói rằng ngày lễ của biểu tượng “Cảm Tình Âu Yếm” của Đức Mẹ mà Thánh Seraphim đã cầu nguyện trước cả cuộc đời và đã chết ở trước, sẽ được ăn mừng tại Diveyevo vào nửa sau tháng 8.

Biểu tượng Đức Mẹ Cảm Tình Âu YếmBiểu tượng Đức Mẹ Cảm Tình Âu Yếm
Biểu tượng Đức Mẹ "Cảm Tình Âu Yếm"

Tôi đặc biệt muốn ở Diveyevo và Sarov cho ngày lễ đó và tôi đã cầu nguyện Đức Mẹ Chí Thánh và Thánh Seraphim mang tôi đến đó vào ngày đấy.

Thánh Seraphim ra đi yên bình trước biểu tượng Đức Mẹ
Thánh Seraphim ra đi yên bình trước biểu tượng Đức Mẹ

Tôi tính là sẽ đi ngày 7 tháng 8. Khi tôi yêu cầu xác nhận vé tôi cho ngày 7 tháng 8, vì một lí do nào đó nhân viên thu ngân đột nhiên bảo tôi: “Tại sao lại đi ngày hôm tới? Đi ngày mai đi.” và xác nhận vé tôi cho ngày 6 tháng 8.

Cha linh hướng tôi, tổng linh mục Sergius Tikhomorov (bị xử bắn bởi bọn Bolshevik năm 1930), bảo tôi rằng trên một chuyến đi đến Thánh Seraphim mọi thứ sẽ đều tự hình thành hết, và rằng không nên phản kháng điều này. Nhớ đến lời khuyên này, tôi đành bằng lòng với việc cần phải rời đi sớm hơn tôi đã dự định một ngày, mặc dù nó làm cho tôi phiền lòng.

Biểu tượng Đức Mẹ Điềm Báo
Biểu tượng Đức Mẹ "Điềm Báo"

Tối khuya đêm 6 tháng 8, tôi đến ga xe lửa, nhưng ở đó lại được cho biết là chuyến xe lửa đi Moscow rời đi rất khuya ban đêm, và rằng tôi có được hai tiếng rảnh rỗi. Tôi đi đến nhà thờ Đức Mẹ “Điềm Báo” (sau bị phá hủy bởi bọn Bolshevik sau cái chết của viện sĩ I. P. Pavlov, một dân xứ đạo nhà thờ này). Vì một lí do nào đó, tôi gõ lên cánh cửa nhà thờ đang đóng. Mặc dù đã muộn, người canh giữ già mở cửa ra và, được biết rằng tôi muốn cầu nguyện trước khi bắt đầu cuộc hành hương của tôi đến Sarov, ông ta cho tôi vào một cách thân tình và bảo, “Cầu nguyện đi, cầu nguyện đi; anh biết không, chúng tôi có một nhà nguyện cho Thánh Seraphim trong nhà thờ này đó.” Tôi khá ngạc nhiên và vui mừng khi biết điều này.

Trong lúc tôi đang cầu nguyện trước bức ảnh lớn, to như người thật của Thánh Seraphim, trong tâm tôi cảm nhận là ngài đang chúc phúc tôi cho chuyến đi. Sau khi rời khỏi nhà thờ, tôi ghé một người bà con xa sống gần nhà ga. Chị ấy mời tôi ít trà. Người họ hàng tôi sống trong một căn gọi là “chung cư tập thể”- một toà nhà có nhiều phòng và nhiều người khác nhau sinh sống ở trong. Giữa cuộc trò chuyện bên tách trà của chúng tôi, có một tiếng gõ cửa phòng, và một người phụ nữ lạ nào đó hỏi, “Có một vị lữ khách nào sắp sửa đi đến Sarov trong đó không?”

Bức ảnh to như người thật của Thánh Seraphim, được sơn khi ngài vẫn còn sống
Bức ảnh to như người thật của Thánh Seraphim, được sơn khi ngài vẫn còn sống

Tôi kinh ngạc và bảo, “Có, tôi chuẩn bị đi đến Sarov.”

“Chuyện là có một người phụ nữ già, đau ốm sống trong phòng kế bên nhờ anh cầu nguyện cho bà ấy tại thánh tích Thánh Seraphim, người bà rất tôn kính. Và đây là 50 kopeck cho một cái Bánh hiến [Prosphora]. Tên người phụ nữ ấy là Sophia. Bả nhờ anh cầu nguyện cho bả, và muốn biết tên anh để có thể cầu nguyện cho anh. Có lẽ là trên cuộc hành trình một Sophia nào đó sẽ cho anh ở nhờ.”

Tôi lấy 50 kopeck đó, nói tên tôi cho cô ấy, và hứa là sẽ cầu nguyện cho nữ tỳ Thiên Chúa Sophia.

Khuya đêm đó, tôi rời Leningrad đi Moscow. Tôi biết rằng ở Moscow có hai chuyến xe lửa đến Arzamas: Một chuyến rời đi buổi sáng và đến Arzamas buổi tối, và chuyến còn lại rời đi buổi tối và đến buổi sáng. Tất nhiên tôi quyết định lên chuyến sau, chuyến xe lửa đêm, để rồi tôi sẽ không phải lo về việc tìm chỗ ngủ hay lãng phí số tiền mà dựa trên lời khuyên của các người linh hướng của tôi, tôi chỉ mang có 5 đồng Rúp. Thêm vào đó, tôi mang theo mình một lượng nhỏ thuốc. Tôi là một người thầy thuốc, và trên chuyến đi có thể ai đó sẽ cần giúp đỡ về mặt y khoa. Tôi tính là sẽ dành cả ngày, cho đến lúc chuyến xe lửa đêm khởi hành, ở Moscow ghé thăm họ hàng, bạn bè và người quen, vì tôi đã không ở đó một thời gian dài. Nhưng, khi tôi đi đến văn phòng vé Moscow để xác nhận vé tôi cho chuyến xe đêm, ở đây, cũng như ở Leningrad, nhân viên thu ngân vì một lí do nào đó đột nhiên nói với tôi: “Anh vẫn còn có thể kịp chuyến xe lửa sáng đó – anh chỉ phải băng qua quảng trường thôi là anh sẽ thấy ga Kazan, từ đó chuyến xe lửa đi Arzamas sẽ rời đi trong nửa tiếng nữa.” Và anh ta đưa tôi một cái vé cho chuyến xe lửa sáng. Tôi đã cực kì khó chịu vì điều này nhưng, nhớ rằng tôi nên quy phục một cách không than phiền trước bất cứ thứ gì xảy ra với tôi, tôi quyết định là có lẽ nhờ việc khởi hành sớm tôi sẽ gặp ai đó tôi cần đến, hoặc né tránh rắc rối gì đó.

Xe lửa đông nghẹt người. Ở đâu cũng nghe thấy lời lẽ thô tục , tiếng la hét và nhạc thế tục trên đàn Concertina. Chuyến xe lửa di chuyển chậm, và dừng chân lâu lắc ở các trạm. Chúng tôi đi cả ngày. Tối đến và màn đêm buông xuống. Một cơn mưa nhỏ bắt đầu rơi. Người người bắt đầu rời toa tàu, và khi xe lửa tới Arzamas đêm đó, hầu như không còn lại hành khách nào.

Bị làm phiền bởi ý nghĩ là tôi đang đến một thành phố lạ vào ban đêm, trong bóng tối, trong mưa, và không có tiền, tôi lấy tay bịt mặt và cầu nguyện Thánh Seraphim rằng ngài sẽ giúp tôi tìm thấy một nơi để qua đêm.

Đột nhiên, một người phụ nữ cao tuổi, ăn mặc sạch sẽ và tươm tất lại gần và bắt đầu nói chuyện với tôi. Biết được rằng tôi từ Leningrad và rằng tôi đang đi Sarov – đến Thánh Seraphim, bà ta cảm động và vui mừng.

“Nào! Và anh sẽ ngủ ở đâu? Anh có họ hàng gì không?”

Tôi trả lời là tôi không có bạn bè ở Arzamas và tôi vừa chỉ mới cầu nguyện là Thánh Seraphim sẽ giúp tôi tìm một chỗ ở.

“Thế thì hãy qua đêm ở chỗ tôi đi, Batiushka3.” người phụ nữ thốt lên. “Chính bản thân Sophia sẽ cho anh ở nhờ,” bà ấy nói thêm. Tôi giật mình, nhớ lại những gì đã được nói với tôi ngày hôm trước, rằng “có lẽ một ai đó tên Sophia sẽ cho anh ấy ở nhờ,” và đã rất ngạc nhiên vì người phụ nữ này đã nói về bản thân là “chính bản thân Sophia.”

“Tên cô là Sophia à?” Tôi hỏi.

“Không. Tôi là Xenia Dimitrievna Kuznetsova, nhưng tôi làm người trông quản nhà thờ chánh toà Thánh Sophia và sống ngay dưới tháp chuông. Đó là tại sao tôi bảo là Sophia, Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa, sẽ cho anh ở nhờ.”

Xenia Dimitrievna dẫn tôi băng qua thành phố Arzamas trong bóng đêm và đưa tôi đến phòng của bà ta dưới tháp chuông nhà thờ chánh toà Thánh Sophia.

“Đây. Tôi sẽ cho anh chút trà để uống, cho anh ăn và cho anh cái giường để ngủ, và bản thân tôi sẽ nằm trong góc phòng,” bà ấy nói.

Tôi bắt đầu phản đối, nói rằng tôi sẽ vui lòng nằm trên sàn nhà, và thêm rằng là, không may, tôi có rất ít tiền.

Một người lữ khách vào thời Nga Linh Thiêng
Một người lữ khách vào thời Nga Linh Thiêng

“Anh nói gì vậy, Batiushka, anh nói gì vậy? Chính anh cần tiền mà, nên tôi sẽ cho anh một ít, thay vì lấy đi. Đã ai nghe đến việc ai đó lấy tiền lữ khách đi đến các nơi linh thiêng bao giờ? Và tôi sẽ không đặt anh trên sàn nhưng trên giường ... Tôi không muốn xuống địa ngục vì anh đâu!” bà ta bất ngờ kết luận. Thấy sự kinh ngạc của tôi, bà ấy nói, “Người lữ khách đáng được danh dự, sự tôn trọng và cái giường tốt nhất trong nhà còn không Đức Chúa sẽ giận dữ.”

Sáng, bà ta lại cho tôi chút gì đó để ăn với uống, bỏ vài cái bánh vào túi tôi, và đưa tôi một cây gậy gỗ lớn mà bà ta xin tôi trả lại trên đường về, và, trong lúc chỉ tôi đường đến Diveyevo (cách đó 70km), đã khuyên tôi vượt chặng đường đó trong vòng 2 ngày.

Biểu tượng Thánh Nicholas
Biểu tượng Thánh Nicholas

“Nhưng trước khi anh đi đến Thánh Seraphim,” Xenia Dimitrievna bảo, “nhất định hãy đi 2 kilomet hướng ngược lại và tôn kính4 biểu tượng làm phép lạ của Thánh Nicholas Người Làm Phép Lạ tại nữ tu viện Thánh Nicholas. Ban đầu tôi tự nghĩ, “Tại sao tôi lại nên đổi lộ trình đã tính trước đến Diveyevo,” nhưng rồi hiểu ra rằng với ý nghĩ đó tôi đã xúc phạm Thánh Nicholas, người mà cùng với Thánh Seraphim, tôi đã đặc biệt sùng kính từ nhỏ.

Thực ra thì, tôi đã đi trước đến nữ tu viện Thánh Nicholas. Ở đó tôi thấy biểu tượng làm phép lạ của Thánh Nicholas, được điêu khắc từ gỗ. Tôi thấy là dường như là Thánh Nicholas đã nhìn tôi nghiêm khắc. Tôi ngã quỳ xuống gối và cầu xin sự tha thứ cho những ý nghĩ của tôi. Với gậy trong tay, tôi bắt đầu đi về hướng Diveyevo. Một cơn mưa lớn bắt đầu rơi. Tôi thấm ướt đến tận xương, và dường như là Thánh Nicholas đã gửi đến tôi một thử thách nhẹ và án phạt cho sự cẩu thả của tôi.

Mệt lả và kiệt sức, tôi tới ngôi làng đầu tiên, Yamishche, với nỗ lực lớn. Ngôi làng quả thực đứng trong một chỗ trũng lớn (Yama), trong một khe núi, và đoạn miêu tả một ngôi làng nọ trong truyện “Trong Khe Núi” của Chekov nảy ra trong đầu tôi. Ngôi làng đó dơ, ồn ào và không thân thiện. Lúc đó đang là một ngày lễ Soviet gì đó. Người ta chơi đàn Concertina; tiếng nói năng tục tĩu tràn đầy không gian. Tôi đi xuyên qua cả ngôi làng và quyết định không ngồi xuống nghỉ ngơi trong nó. Mặt trời hiện ra và bắt đầu làm khô mọi thứ một tí. Sau khi đã nghỉ ngơi trên một hòn đá, tôi tiếp tục lên đường. Thời tiết trở nên hoàn toàn trong lành.

Lúc 10 giờ đêm và trong bóng tối đen, tôi tới ngôi làng Orekhovets, nửa đường đến Diveyevo. Tôi phải tìm một nơi để ngủ, và tôi bắt đầu gõ cửa chòi. Nhưng tôi không được cho vào ở đâu cả khi biết được rằng tôi là một tên “ngắn ngày”, một kẻ “lang thang.” Đôi khi họ nói thô lỗ, “Biến đi! Quanh đây có quá nhiều thằng ăn không ngồi rồi tụi bây rồi.” Cuối cùng một có người dân làng bảo tôi: “Có ông linh mục sống ở kia kìa; có khi ổng sẽ cho anh vô.” Tôi đến nhà của người linh mục và gõ cửa. Sau vài phút, tôi nghe tiếng bước chân và tiếng dép lê lết, và một ông linh mục già mở hé cửa ra. Đối với lời đề nghị một nơi để ngủ của tôi, ông ấy trả lời là không may ông ta không thể nhận tôi được, vì ông đã bị ngăn cấm làm điều này bởi chính quyền – họ đe dọa là sẽ trừng phạt đau đớn nghiêm ngặt – và khuyên tôi thay vào đó hãy đến cái chòi ở góc đường, tới Komsomol, nơi mà có lẽ tôi sẽ được qua đêm.

“Ôi Batiushka,” tôi trả lời, “bất cứ đâu ngoài Komsomol. Tôi đang đi đến Thánh Seraphim để cầu nguyện. ... Đừng sợ tôi mà, giấy tờ tôi hợp lệ cả, với tôi là một tín hữu...”

“Ngoài ra, con tôi bệnh rồi,” vị linh mục cắt ngang.

“Batiushka,” tôi thốt lên thân tình, “tôi là thầy thuốc, chuyên bệnh trẻ em nữa; Tôi sẽ khám cho con của cha. Tôi còn có thuốc nữa.”

Bị thuyết phục bởi các lí lẽ của tôi, vị linh mục cho tôi vào và giới thiệu tôi với vợ ông ta. Sau khi đã khám con của ông ấy xong, tôi cho họ an tâm là chỉ có cảm cúm thôi và cho họ chút thuốc.

Matushka5 bắt bình Samovar lên, và ba chúng tôi ngồi xuống uống trà, trò chuyện, và sau chỉ một giờ đã trở thành bạn.

“Tha lỗi cho tôi,” vị linh mục chợt nói, “vì đã muốn từ chối anh chỗ ngủ. Chúa đã gửi đến cho tôi một vị khách thú vị đến vậy mà tôi lại muốn đuổi anh ấy đi.” Tôi thì xin lỗi vì tôi đã nài nỉ đến vậy trong lời kêu cầu một nơi để ngủ.

Sau khi đã ở lại qua đêm, tôi tiếp tục lên đường lúc sáng sớm sau khi dùng trà và bánh. Matushka đã phơi khô, làm sạch, và ủi đồ cho tôi và bỏ vài cái bánh trong túi tôi. Batiushka bắt tôi hứa là sẽ dừng tại nhà cha trên đường về nhà.

Thời tiết trong lành và ấm áp. Chim chóc hót vang, và tôi cảm thấy thư thái. Tôi cầu nguyện đến Thánh Seraphim trong lúc tôi đi, và đi nhanh hơn các người đi đường khác. Tất cả bọn họ mỉm cười nhã nhặn và cúi đầu. Tôi nói chuyện với một số người bọn họ.

“Nhìn xem bao nhiêu người đang đi bộ và cưỡi ngựa, xe,” một người đi đường bảo tôi. “Tất cả những người này đang đi đến vị Thánh từ khắp mọi ngóc ngách của đất nước Nga!”

Và quả thực, bất cứ ai tôi hỏi đều trả lời là họ đang đi đến Thánh Seraphim. Người từ khắp nơi đã ở đó. Bình dân và giới tri thức, đàn ông và đàn bà, thanh niên và trẻ em. Một vài đến từ Moscow, số khác từ Odessa, mấy người khác từ Arkhangelsk, số khác nữa từ Siberia, ... Điều này làm tôi quá đỗi ngạc nhiên và khiến tôi đặc biệt vui.

“Kìa, nhìn xem, ở trước chúng ta một anh thanh niên, một tu sĩ, đang đi bộ lên trên một ngọn đồi. Đó là cha Platon, con trai của giáo sư I. nổi tiếng đến từ Moscow. Tại một thời điểm mà ai ai cũng cố gắng vào Komsomol, ảnh đã trở thành một tu sĩ,” một người đàn bà cao tuổi từ Tula giải thích cho tôi.

Vì một lí do nào đó, tôi đột nhiên có mong muốn làm quen hơn với anh tu sĩ trẻ này. Tôi bắt kịp anh ấy, cúi chào, bắt đầu nói chuyện, và chúng tôi trở thành bạn. Chúng tôi dành cả phần còn lại của chuyến đi cùng nhau. Cha Platon chỉ có mỗi chiếc vé từ Moscow đi Arzamas và trở lại. Anh ta chẳng có tiền hay hành lí gì cả.

Thánh Seraphim ban phúc cho một vị lữ khách
Thánh Seraphim ban phúc cho một vị lữ khách

“Thánh Seraphim luôn chu cấp và sẽ gửi đến một nơi để ở.” Anh ta nói với lòng xác tín.

“Cha có bạn bè nào ở Diveyevo không?” tôi hỏi anh ấy.

“Không, nhưng Thánh Seraphim sẽ gửi bạn bè đến!”

“Có lẽ thông qua tôi, một tên tội nhân, ngài sẽ gửi cha những người bạn này đấy,” tôi nói. “Tôi đang mong gặp được người bạn tốt của tôi, một giáo sư y dược, sau cái chết của chồng cô ấy, cũng là một giáo sư, đã bỏ đi đến Diveyevo và làm việc tại đây ở trong trạm y tế tu viện,” tôi giải thích cho cha Platon.

Thánh Seraphim tỏa sáng trong cuộc trò chuyện với Motovilov
Thánh Seraphim tỏa sáng trong cuộc trò chuyện với Motovilov
Thánh Seraphim được Đức Mẹ chữa một căn bệnh hiểm nghèo khi còn nhỏ
Thánh Seraphim được Đức Mẹ chữa một căn bệnh hiểm nghèo khi còn nhỏ

“Thế thì vinh quang cho Thiên Chúa,” vị tu sĩ trẻ tuổi trả lời. Chúng tôi đi tiếp.

“Một lần, khi tôi gợi ý cha Platon là chúng tôi ngồi xuống nghỉ, anh ta trả lời, “Không, chúng ta không thể nghỉ ngơi; chúng ta phải mau lên còn không chúng ta sẽ trễ lễ canh-thức-xuyên-đêm6. Anh biết không, đây là một buổi lễ lớn đến vậy mà!”

“Lễ nào?” tôi ngạc nhiên.

“Ý anh là sao? Ngày mai là lễ của biểu tượng Đức Mẹ ‘Cảm Tình Âu Yếm’ của Diveyevo và cũng là lễ của biểu tượng Đức Mẹ Smolensk ‘Hogiditria.’”

Như thể vảy đã tróc khỏi mắt tôi, tôi chợt hiểu ra tại sao cả ở Leningrad và ở Moscow các nhân viên thu ngân đã xác nhận vé tôi sớm hơn tôi muốn một ngày rưỡi. Rõ ràng là sự trợ giúp của Đức Mẹ, người đã đáp trả lời cầu nguyện của tôi rằng tôi sẽ dành ngày lễ của biểu tượng “Cảm Tình Âu Yếm” tại Diveyevo. Và thế nên, Đức Hogiditria, nghĩa là, Đức Chỉ Đường, đã cầm tay tôi và đưa cho tôi đến nơi vào ngày lễ của biểu tượng “Cảm Tình Âu Yếm”, làm cho lòng tôi cảm động với niềm vui lặng im ...

Chúng tôi tới Diveyevo cùng khi tiếng chuông đang reo, ngay lúc bắt đầu của buổi lễ canh-thức-xuyên-đêm. Tất cả sự mệt mỏi đều đã tan biến đi mất, mặc dù chúng tôi đã đi bộ hơn 30 km. Có một số lượng lớn người trong nhà thờ. Ba vị giám mục cử hành: Các Quý Đức Cha Seraphim, Philip và Zinovii. Hơn ba ngàn lữ khách đến Diveyevo tối hôm đó và ngày hôm sau.

Khi tôi hỏi một nữ tu sĩ liệu bác sĩ V. V. Sh. có ở tu viện không, cô ấy trả lời là “Matushka Vera ở đằng kia,” và dẫn tôi đến V. V.; cô ấy đã trở thành tu sĩ và giờ điều hành trạm y tế của tu viện.

“Các anh sẽ ngủ trong trạm y tế,” cô ta nói với tôi và Cha Platon.” Tôi có một phòng hai giường hoàn toàn trống. Nhưng bây giờ thì đi lễ đi. Sau lễ hãy đến chỗ tôi dùng trà...

Buổi lễ tuyệt vời. Một đoàn hợp ca hay, những giai điệu và phong cách hát Diveyevo đặc biệt...

Đoàn ca Diveyevo
Đoàn ca Diveyevo

Sau buổi lễ canh-thức-xuyên-đêm, Cha Platon và tôi ghé V. V. và trò chuyện một thời gian dài về Diveyevo tuyệt vời, về Thánh Seraphim và các lời hướng dẫn của ngài.

“Ngày mai, sau lễ phụng vụ, chúng tôi sẽ đi lập tức đến Sarov, đến thánh tích Thánh Seraphim,” Cha Platon nói, và tôi tán thành. “Chúng ta hãy đi đến Sarov sớm nhất có thể!”

“Không,” V.V. bảo, “hai anh phải ở lại ít nhất một ngày tại Diveyevo. Các anh không biết Thánh Seraphim đã nói gì sao? ‘Hạnh phúc thay người ở lại một ngày tại Diveyevo, vì Đức Mẹ Chí Thánh đi xung quanh nơi đây. Cô Chủ của chúng ta xuống thế mỗi ngày một lần và đi quanh cả tu viện.’”

Rồi V. V. bảo chúng tôi là có một quy tắc, phải được thực hiện, của Thánh Seraphim, đó là, đi vòng quanh cái “mương” (nghĩa là, con đường quanh tu viện) ba lần với xâu cầu nguyện trong tay và niệm lời cầu nguyện “Hỡi Đức Mẹ Trinh Bạch” một trăm năm mươi lần và kinh “Lạy Cha” một trăm năm mươi lần, rồi cầu nguyện cho tất cả họ hàng và người thân, cả sống lẫn chết. Sau đó, anh có thể trình bày nguyện vọng thành tâm nhất, cần thiết nhất của anh và nhất định nó sẽ được thực hiện.

Lữ khách và nữ tu sĩ đi bộ dọc con mương, thực hiện "quy tắc Thánh Seraphim"
Lữ khách và nữ tu sĩ đi bộ dọc con mương, thực hiện "quy tắc Thánh Seraphim"
Thánh Seraphim đào một con suối
Thánh Seraphim đào một con suối

Một trong những sơ tu Diveyevo đã từng bảo Mẹ Trưởng Tu Viện Alexandra: “Phải chi chúng ta biết lúc Cô Chủ chúng ta đi quanh tu viện dọc theo mương nhỉ!” Đối với điều này. Mẹ Trưởng Tu Viện trả lời: “Thì, cứ sống cả ngày như thể Đức Mẹ Chí Thánh đang đi bên con từng giây phút đi.” Một câu trả lời tuyệt vời!

Tất nhiên, Cha Platon và tôi quyết định ở thêm một ngày tại Diveyevo.

Vào buổi tối, sau khi đã ngắm hết các cảnh đáng lưu ý của tu viện, đặc biệt là nghĩa trang, nơi gia đình Manturov, Maria-Martha mười sáu tuổi, và những người khác được nhắc đến trong Ký Sự Nữ Tu Viện Seraphim-Diveyevo của Tổng Giám mục đô thành Seraphim (Chigagov)7 được chôn, Cha Platon và tôi, với xâu cầu nguyện trong tay, bắt đầu thực hiện “Quy tắc” của Thánh Seraphim, và lặng lẽ đi con mương xung quanh tu viện ba lần.

Sau các vòng đi, tôi đã định xin nhiều thứ, cả vật chất lẫn tâm linh, nhưng khi, ở hồi kết vòng thứ ba quanh con mương, tôi đã thực hiện quy tắc và muốn bày tỏ những nguyện vọng thành tâm, một điều gì đó nhiệm màu đã xảy ra, rõ ràng là thông qua lòng thương xót vĩ đại của Thánh Seraphim. Tôi đột nhiên được bao trùm bởi một niềm hạnh phúc rất đặc biệt, tâm linh, lặng im, nồng ấm và ngọt ngào; một niềm xác tín không hoài nghi của toàn bộ con người tôi về sự tồn tại của Thiên Chúa, và một mối hiệp thông hết sức chân thật, nguyện cầu với Ngài. Tôi đã hoàn toàn rõ và hiểu được rằng một lời thỉnh cầu cho bất cứ thứ gì thuộc trần thế sẽ chẳng khác gì lời cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa, hãy rời bỏ con và lấy đi món quà tuyệt diệu của Ngài từ con...”

Và bên trong tôi, tôi nói lên nhiệt thành với Đức Chúa: “Lạy Đức Chúa, đừng cho con gì cả; hãy lấy đi mọi sự thịnh vượng trần thế của con, chỉ là đừng lấy đi mất niềm vui của sự hiệp thông với Ngài, hoặc, nếu không thể bảo dưỡng nó mãi mãi trong đời người, thì hãy cho con một ký ức chân thành, cho con cách thức để bảo dưỡng cho đến chết ký ức của giây phút hạnh phúc này của sự nhận thức về Thần Khí của Ngài.”

Ngày hôm sau, Cha Platon và tôi đi đến Sarov. Chúng tôi tôn kính thánh tích Thánh Seraphim với niềm cảm xúc dạt dào, với lòng thành kính và sự kính sợ tâm linh. Tôi cảm thấy là tôi đã được tái sinh về mặt tâm linh ngày hôm trước ở Diveyevo. Tất cả mọi thứ bên trong tôi đã trở nên mới mẻ. Trước đó, tôi đã không hiểu được một sự thật đơn giản đến vậy, rằng điều tâm linh khác biệt với điều tri thức hơn điều tri thức khác biệt với xác thịt (xem 1 Cor 2:14-15). Nhưng giờ tôi hiểu điều này khá rõ.

Hòm thánh tích Thánh Seraphim bây giờ
Hòm thánh tích Thánh Seraphim bây giờ
Quan tài gốc của Thánh Seraphim (Hình được chụp sau khi thánh tích đã được dời)
Quan tài gốc của Thánh Seraphim (Hình được chụp sau khi thánh tích đã được dời)

Trong tận đáy lòng tôi, mọi thứ lặng im, thanh bình và vui vẻ. Các phép mầu bên hòm thánh tích của Thánh Seraphim diễn ra trước mặt tôi không làm cho tôi kinh ngạc. Mọi thứ dường như đơn giản và tự nhiên.

Một cậu nhóc bị bại chân đã được chữa lành tại thánh tích; một người phụ nữ tâm thần đã được chữa khỏi – Toàn bộ những việc này đều đã phải diễn ra như thế này.

Một vị tu sĩ già luôn đứng cạnh thánh tích Thánh Seraphim. Ông ấy đã thực hiện nghĩa vụ này nhiều năm rồi – đứng kế bên thánh tích và ban phúc cho biểu tượng và thánh giá.

Một trong những người bạn của tôi mà đã từng đi đến Sarov nhiều năm trước kể cho tôi câu chuyện sau. Đang lúc đứng trong hàng đến thánh tích của vị thánh và đang cầm một chiếc biểu tượng nhỏ trong tay để được ban phúc, anh ta để ý rằng người tu sĩ già, tên là Isaakii, lấy các biểu tượng, chạm chúng lần lượt lên trán và ngực của vị thánh rồi trao chúng lại; Đôi khi, nếu biểu tượng lớn hơn, chúng được đóng mộc, “Được ban phúc trên thánh tích của Thánh Seraphim vùng Sarov.”

Bạn tôi, làm nghề kỹ sư, tự nghĩ, “Sao thế này được? Cần phải có nước thánh để ban phúc cho biểu tượng.” Nhưng anh ấy chẳng nói gì cả và, bước đến vị trưởng lão, lặng lẽ đưa ông ta biểu tượng của anh. Rồi người tu sĩ dừng lại một giây, như thể lưỡng lự, và rồi đã không chạm biểu tượng lên trán hay ngực của Thánh Seraphim, nhưng nhờ một trong những sơ tu mang cho ông ta nước thánh, và rảy lên biểu tượng. Rõ ràng là vị trưởng lão thấu thị và đọc được suy nghĩ.

Ngắm nhìn vị trưởng lão này, tôi nhớ về câu chuyện của bạn tôi, sau đã trở thành linh mục...

Ở Sarov, chúng tôi đi đến Ẩn Viện Gần và Xa, thấy những giếng nước Thánh Seraphim đã đào, tắm trong con suối nước chữa lành linh thiêng, thấy bên dưới kính hòn đá mà vị khổ tu Sarov đã cầu nguyện một ngàn ngày và đêm ở trên, và nhiều thứ khác.

Ẩn viện "gần" khoảng năm 1903
Ẩn viện "gần" khoảng năm 1903
Bên trong ẩn viện "gần"
Bên trong ẩn viện "gần"
Thánh Seraphim cầu nguyện cùng các nữ tu sĩ
Thánh Seraphim cầu nguyện cùng các nữ tu sĩ
Ẩn viện "xa" của Thánh Seraphim
Ẩn viện "xa" của Thánh Seraphim

Chúng tôi cũng đã gặp một nữ tu sĩ già mà đã kể cho chúng tôi rằng tại lễ mở thánh tích Thánh Seraphim năm 1903, bà ta đã có mặt tại buổi trình diện Hoàng Đế Nicholas II một lá thư từ Thánh Seraphim (gửi “vị hoàng đế thứ tư đến đây.”) Lá thư đã được bảo tồn tại tu viện Sarov qua suốt bốn đời hoàng đế. Vị hoàng đế đã hết sức quan ngại khi ngài đọc lá thư. Không có gì được biết về nội dung của lá thư. Tôi đã rất ấn tượng với câu chuyện của nữ tu sĩ ấy, vì tôi đã chưa bao giờ biết đến điều này trước đó.

Thánh Tử Đạo Hoàng Đế Nicholas II vác hòm thánh tích Thánh Seraphim năm 1903 tại sự kiện mở thánh tích
Thánh Tử Đạo Hoàng Đế Nicholas II vác hòm thánh tích Thánh Seraphim năm 1903 tại sự kiện mở thánh tích

Cha Platon và tôi đã rất muốn có được ngay cả chỉ mảnh vỡ nhỏ nhất từ tảng đá Thánh Seraphim đã cầu nguyện ở trên, nhưng chúng tôi bị bảo rằng nếu như mọi vị khách đến Sarov đều được cho một mảnh, tảng đá sẽ đã biến mất từ lâu rồi. Cha Platon gợi ý tôi đi với anh vào sâu trong rừng và cầu nguyện Thánh Seraphim rằng ngài gửi đến cho chúng tôi một mảnh vỡ từ tảng đá của ngài.

Như trẻ em, với lòng tin nhiệt thành rằng lời cầu nguyện của chúng tôi sẽ được lắng nghe, chúng tôi quỳ xuống và cầu nguyện. Lời cầu nguyện của chúng tôi đã được lắng nghe nhanh chóng. Chưa đầy nửa tiếng đã trôi qua khi chúng tôi, trong khi đang đi lang thang xuyên qua khu rừng, dừng chân gần một cây thánh giá gỗ to – một trong số rất nhiều trong các khu rừng, đồng ruộng và bên các vệ đường tỉnh Tambov. Cây thánh giá vừa mới được sơn lên một hình ảnh Đấng Cứu Thế bởi một nữ tu sĩ. Nữ tu sĩ ấy đang hoàn tất việc của cô ta khi chúng tôi bước đến và chào cô ấy.

“Tên của Mẹ là gì?”

“Barbara,” cô ấy trả lời.

“Mẹ sơn đẹp làm sao!” tôi bảo.

“Không, không đẹp lắm đâu.” Mẹ Barbara nói một cách khiêm tốn. “Đây không phải là sở trường của tôi; tôi là hoạ sĩ tiểu hoạ. Khi một vài vị giám quản nào đó sẽ được tặng những mảnh vỡ từ hòn đá của Thánh Seraphim, kích cỡ khoảng một móng tay, tôi sơn mặt vị thánh lên những viên sỏi này...

“Thưa Mẹ!” Cha Platon thốt lên, “chúng tôi rất muốn có được dù chỉ một mảnh tí hon từ hòn đá đó!”

Tảng đá của Thánh Seraphim
Tảng đá của Thánh Seraphim

Nữ tu sĩ nhìn chúng tôi chằm chằm và bảo: “Tôi giữ một vài mảnh vỡ từ hòn đá linh thiêng đó và quý trọng chúng như một phúc lành lớn. Những mảnh vỡ đó còn sót lại sau khi tôi đánh bóng những viên sỏi tôi vẽ hình lên. Nhưng những mảnh này đang được giữ tại nhà họ hàng tôi ở xa, cách đây 70km... Có lẽ các anh có thể cho tôi địa chỉ của các anh và tôi có thể gửi bưu điện những mảnh vỡ đó cho các anh.”

Tôi vô tình có hai bao thư đã dán tem. Tôi ghi địa chỉ Leningrad của tôi và Cha Platon địa chỉ Moscow của anh ấy, thêm chữ “bảo đảm,” và đưa chúng cho mẹ Barbara. Hai tuần sau khi tôi về đến nhà, tôi nhận được một vài những mảnh vỡ đó trong thư như mẹ Barbara đã hứa, người tôi đã vô tình gặp trong rừng Sarov trong hoàn cảnh lạ thường như thế.

Trong vòng hai ngày tiếp theo, chúng tôi ghé thăm xưởng vẽ biểu tượng ấn tượng, nói chuyện với nhiều tu sĩ và nữ tu sĩ già, đi dạo quanh khu rừng rậm với những cây thông to lớn (chu vi hai sải tay) của nó, hít thở “hương thông Sarov,” như một nhà thơ – Klyuev – đã miêu tả hương thơm của Sarov.

Vẽ biểu tượng tại Diveyevo
Vẽ biểu tượng tại Diveyevo
Hội hoạ tại DiveyevoHội hoạ tại Diveyevo
Hội hoạ tại Diveyevo

Tôi quyết định mua một biểu tượng bạc nhỏ với hình Đức Mẹ “Cảm Tình Âu Yếm” một bên và hình Thánh Seraphim bên còn lại để đeo quanh cổ suốt đời. Nhưng không may, lúc đó không còn chiếc biểu tượng này – thường ở tu viện hay có sẵn một lượng lớn. Tôi cực kì nản lòng, nhưng Cha Platon bảo tôi, “Cầu nguyện là Thánh Seraphim gửi anh biểu tượng đó đi.”

Một lần nữa với lòng tin như trẻ con, Cha Platon và tôi cầu xin Thánh Seraphim gửi đến cho tôi chiếc biểu tượng này. (Bạn đồng hành tôi có một cái rồi.)

“Vậy giờ trước khi anh về tới nhà, anh chắc chắn sẽ nhận được chiếc biểu tượng này,” Cha Platon nói với tôi với lòng xác tín. “Một là anh sẽ nhận nó như một món quà từ ai đó, hoặc là anh sẽ mua nó.”

Sau khi đã được nuôi dưỡng tâm linh tại Sarov và Diveyevo, chúng tôi rời đi Arzamas.

Tục lệ là phải đi bộ hết bảy mươi verst từ Sarov đến Arzamas. “Ai ghé thăm tôi phải đi mòn đôi giày tốt nhất của anh ấy.” Thánh Seraphim thường hay nói. Thế nên, hầu hết lữ khách đi bộ đến Sarov. Nhưng họ thường đi xe ngựa chuyến về; mỗi xe chở tầm 10 người giá 1 Rúp mỗi người. Nhưng điều kiện của chuyến đi không cho phép cả mười người cùng đi xe một lúc, mà thay phiên nhau đi bộ từng chặng đường.

Cha Platon và tôi đi như thế. Đêm cuối cùng ở Sarov, tôi chẳng ngủ tí nào, nhưng lắng nghe tháp đồng hồ điểm. Nó điểm các phút bằng một cái chuông to hơn một tí, và cuối cùng nó điểm các giờ bằng một cái chuông khá là to.

Dọc đường đến Arzamas, chúng tôi thấy một cái xe nữa ở trước chúng tôi, cũng chở 10 hành khách. Trong số họ, chúng tôi để ý đến hai nhân vật nữ. Một nữ tu sĩ Schema8 trẻ tuổi và bạn đồng hành của cô ấy, một cô y tá, đội một cái khăn trùm đầu trắng.

Thánh Martha Diveyevo, một nữ tu sĩ Schema
Thánh Martha Diveyevo, một nữ tu sĩ Schema

Cô y tá thường ngồi lên xe, mặc dù cô ta là một người đàn bà mạnh khỏe, má hồng hào. Còn cô nữ tu sĩ Schema, nhợt nhạt, mong manh và trông cực kì ốm yếu, bước đi một cách nhanh nhẹn, và không ngồi xuống trong xe một lần nào cả. Chúng tôi trở nên hứng thú với những vị lữ khách này, bắt kịp với cô y tá và nói chuyện với cô ta.

Biết được rằng tôi là thầy thuốc, cô y tá hỏi tôi: “Giải thích cho tôi đi, bác sĩ, tôi nên hiểu sự việc sau thế nào.” Cô ấy giải thích cho tôi là họ hàng của cô, nữ tu sĩ Veronica trẻ tuổi thuộc Tu viện Smolensk, mắc bệnh lao giai đoạn cuối. Các bác sĩ cho em ấy ba tuần để sống. Lúc ấy, em ta nài xin được nhận áo Schema và rồi được chở đến thánh tích Thánh Seraphim. Em ấy được mang đi, thoi thóp, trong một khoang riêng xe lửa và rồi trên một chiếc xe ngựa đến Sarov.

Ngay khi tôn kính thánh tích Thánh Seraphim, Mẹ Veronica cảm thấy bản thân được chữa lành và bảo: “Tha lỗi cho con, Thánh Seraphim, vì con đã không thể đi bộ đến với ngài và đi mòn đôi giày tốt nhất của con, nhưng để bù lại, con sẽ không đi xe chặng đường 70km về Arzamas, nhưng sẽ đi bộ.” Và kìa cô ta đó, đang đi bộ.

Tôi trả lời rằng tôi không những chỉ là một bác sĩ, mà còn là một người tín hữu Ki-tô Giáo Chính Thống và, vì thế, tôi hiểu sự việc này là một phép màu không thể chối cãi được bởi Thánh Seraphim. Ba năm sau, trong khi bị giam cầm tại trại tập trung Solovetsk vì tín ngưỡng tôn giáo của mình, tôi gặp ở đó Giám mục Ilarion vùng Smolensk; ngài kể tôi là mẹ Veronica vẫn còn sống khi ngài bị đuổi đi khỏi đó năm 1929, và rằng nhiều tín hữu vùng Smolensk biết về sự chữa lành thần kỳ của chị ta.

Thánh Seraphim cầu nguyện Đức Mẹ cho một nữ tu sĩ
Thánh Seraphim cầu nguyện Đức Mẹ cho một nữ tu sĩ

Trên đường đến Arzamas, Cha Platon và tôi ghé thăm Cha Alexis, người linh mục tại ngôi làng Orekhovets, và dành một tiếng đồng hồ không thể nào quên được đàm thoại tâm linh với Cha trong khi ngựa nghỉ ngơi.

Tại Arzamas, Cha Platon và tôi chia tay: anh ta đi Moscow, và tôi ghé lại thăm người bạn mới của tôi – Người trông quản nhà thờ chánh toà Thánh Sophia, Xenia Dimitrievna.

Tôi trả bà ta cây gậy, cảm ơn bà vì mọi thứ và có một cuộc trò chuyện tâm tình với bà ấy.

“Thiệt tôi không biết tặng anh gì làm quà lưu niệm tôi,” Xenia Dimitrievna bảo, và bà ta suy nghĩ một lát. “Vậy đi! Tôi sẽ có thể kiếm thêm một biểu tượng như vậy ở Sarov, nhưng anh sẽ không thể nào kiếm được một cái nào như vậy ở Leningrad.” Và bà ấy lấy một chiếc biểu tượng bạc nhỏ từ cổ mình và cho tôi xem. “Anh không có một chiếc biểu tượng như vầy chứ?”

Tôi nhìn và đứng hình. Đó là biểu tượng hình Đức Mẹ “Cảm Tình Âu Yếm” và Thánh Seraphim. Đây là chính chiếc biểu tượng mà tôi và Cha Platon đã cầu xin trong rừng ngày hôm trước.

“Chiếc biểu tượng này,” Xenia Dimitrievna giải thích trong lúc bà ta đeo nó lên cho tôi, “được đặt lên trán và ngực Thánh Seraphim vào ngày mở thánh tích của ngài năm 1903.” Tôi ra đi về nhà và từ lúc đó, giờ đã hơn 25 năm về trước, chiếc biểu tượng này đã luôn ở bên tôi. Cầu Chúa ban cho rằng tôi sẽ đem nó cùng tôi xuống mộ. Tôi kiên quyết mong chờ điều này.

Cả cuộc đời tôi thay đổi sau cuộc hành hương của tôi đến Tu Viện Sarov. Đức Chúa lấy đi từ tôi, theo như lời cầu nguyện của tôi tại con mương, mọi của cải trần thế, nhưng đã bảo dưỡng mãi trong tôi, ký ức phút giây khi, nhờ bởi lòng thương xót vô hạn của Ngài, bởi lòng thương xót của Đức Mẹ Chí Thánh và bởi lời cầu nguyện của Thánh Seraphim, tôi, một tên tội nhân, đã có được niềm vinh dự hoàn toàn không xứng đáng được trải nghiệm bên trong tôi hơi thở lặng im, hạnh phúc, tốt lành và ngọt ngào của Thần Khí Thiên Chúa.

Tác giả, giáo sư I. M. Andreyev
Tác giả, giáo sư I. M. Andreyev

Chú thích

  1. Trong tiếng Nga tên John và Ivan là như nhau.

  2. Giáo Hội Nga sử dụng lịch Julian (Old style) thay vì lịch Gregorian (New style) được sử dụng bởi thế giới hiện tại và trễ hơn 13 ngày.

  3. Batiushka, dịch nghĩa đen là “cha nhỏ”, là cách gọi thân thuộc cho linh mục, tu sĩ hoặc một người đàn ông nào ở bề trên.

  4. Hôn biểu tượng.

  5. Tương tự như Batiushka, Matushka, dịch nghĩa đen là “mẹ nhỏ”, là cách gọi thân thuộc cho vợ linh mục, nữ tu sĩ hoặc một người đàn bà nào ở bề trên.

  6. Trong truyền thống Nga, lễ Vespers và Matins cho ngày hôm sau có thể được kết hợp lại thành một buổi lễ duy nhất thực hiện vào tối thứ bảy hàng tuần hoặc đêm trước các lễ lớn.

  7. Đây có lẽ tác phẩm hoàn chỉnh và đồ sộ nhất về cuộc đời của Thánh Seraphim và lịch sử của tu viện được viết bởi Tổng Giám Mục Đô Thành Seraphim (Chigagov), bản thân là một viên tử đạo thời Cộng Sản. Ngài bị xử tử tại trường bắn NKVD vào ngày 11 tháng 12 năm 1937 năm 82 tuổi và được tưởng nhớ ngày (O.S.) 11/12; (N.S.) 28/11.

  8. Trong tu hành Chính Thống Giáo, có ba bậc chính thức tương đương với ba cấp bậc tu khổ hạnh và sự khước từ thế gian. Theo trình tự là Stavrophore, Rassophore và Schema (monk).