Sự sống sau cái chết
Đời Sống Tâm Linh
Lời người dịch: Tiêu đề gốc của bài thuyết giáo từ Thánh Gioan Maximovitch là "Tôi tin vào sự Phục sinh của Kẻ Chết". Bài giảng này cung cấp những góc nhìn quan trọng về trạng thái của linh hồn sau cái chết và giúp cho các tín hữu Chính thống giáo hiểu được giáo lý sai lầm của Luyện ngục (Purgatory) của Công giáo La Mã và giáo lý về việc được cứu rỗi ngay lập tức sau khi chết của đạo Tin Lành. Bài giảng cung cấp một khuôn mẫu chung để hiểu về tầm quan trọng trong việc cầu nguyện cho người đã khuất, đặc biệt là trong 40 ngày đầu, của Giáo hội Chính thống giáo.
Khi linh hồn rời khỏi thân thể và thân thể đã chết, các tín hữu Kitô giáo sẽ chăm sóc thân thể của người đó một cách trang nghiêm, bởi vì thân thể ấy vẫn là người đó. Mặc dù không phải tất cả, không phải là phần tốt nhất của người đó, nhưng cơ thể đó vẫn là người đó. Không như thuyết ngộ đạo, quan niệm rằng thân thể là tù ngục của linh hồn, và linh hồn sẽ được giải thoát thông qua cái chết, Chính thống giáo khẳng định về sự kết hợp hài hoà và nhất quán giữa thân thể và linh hồn, và sự kết hợp đó tạo nên một cá thể (a person) riêng biệt. Đây là lý do tại sao Kitô giáo không bao giờ chấp nhận việc hoả táng như thể thân xác là một vỏ bọc không giá trị; ngược lại chúng ta tôn trọng và chăm sóc thi hài của người thân yêu của mình như cách Giuse xứ Arimathea, Nicodemus và những người phụ nữ mang một dược đã chăm sóc thi hài của Chúa Giêsu. Và tương tự như vậy, chúng ta sẽ chôn cất thi hài người đó, trao cho họ nụ hôn cuối cùng, và sẽ cầu nguyện cho linh hồn của họ, bắt đầu cuộc hành trình sau khi chết cho đến sự phục sinh chung và ngày phán xét cuối cùng.
Để tránh hiểu lầm khi bàn luận về hiện thực sau khi chết, Muối Của Đất muốn làm rõ một điều rằng: chủ đề này rất phức tạp để có thể diễn đạt một cách đầy đủ trong một bài viết. Chúng tôi sẽ dịch và biên soạn thêm nhiều tư liêu về vấn đề này trong tương lai.
Vô bờ bến và không thể nguôi ngoai sẽ là nỗi đau của chúng ta khi người thân thương đã khuất, nếu như Chúa đã không ban cho chúng ta sự sống vĩnh hằng. Cuộc sống của chúng ta sẽ là vô nghĩa nếu như nó kết thúc bằng cái chết. Khi ấy làm điều thiện hay sống đức hạnh thì mang lại ích lợi gì? Lúc đó, họ đã đúng khi nói rằng “hãy cứ ăn cứ uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết” (1 Cô-rin-tô 15:32).
Nhưng con người được tạo ra để hướng đến sự bất tử, và Đức Chúa Giêsu qua sự Phục sinh của Ngài đã mở toang cánh cổng Vương Quốc Thiên Đàng và phước hạnh vĩnh hằng cho những người tin vào Ngài và sống công chính. Cuộc sống trần thế của chúng ta là sự chuẩn bị cho tương lai, và cái chết của chúng ta là cái kết của sự chuẩn bị đó. "Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét" (Híp-ri 9:27).
Và rồi, một người sẽ buông bỏ mọi lo toan trần thế và thân thể sẽ mục rữa, để được trỗi dậy lại như mới trong sự Phục Sinh Toàn Thể. Nhưng linh hồn của người đó vẫn tiếp tục sống, và sự tồn tại của nó không dừng lại ở một khoảng khắc nào.1 Nhiều người đã khuất đã hiện ra trước chúng ta và cho biết phần nào về những gì sẽ xảy ra với linh hồn khi nó rời khỏi thể xác. Khi linh hồn không còn nhìn bằng đôi mắt trần thế, thì đôi mắt tâm linh của nó sẽ mở ra. Điều này thường xảy ra với những người đang hấp hối, ngay cả trước khi trút hơi thở cuối cùng, và trong khi ho vẫn thấy những người xung quanh mình và vẫn nói chuyện với họ, họ lại thấy những gì mà người khác không thấy2.
Khi rời khỏi thân thể, linh hồn sẽ nhận thấy mình đang ở giữa các linh hồn khác, cả thiện và ác. Thông thường, linh hồn sẽ hướng đến những linh hồn gần gũi về mặt tâm linh, nhưng nếu như khi còn trong thân thể nó bị ảnh hưởng bởi những linh hồn nhất định, thì nó sẽ phụ thuộc vào chúng khi rời khỏi thân thể, bất kể cuộc gặp gỡ đó có khó chịu đến đâu.3
Trong khoảng thời gian hai ngày, linh hồn tương đối được tự do và có thể viếng thăm những nơi chốn yêu thích trên trần gian, nhưng đến ngày thứ ba, nó sẽ khởi hành đến những không gian khác. Vào lúc này (ngày thứ ba), linh hồn sẽ vượt qua đám tà thần cản đường và cáo buộc nó về những tội lỗi khác nhau - những tội lỗi mà chính chúng đã cám dỗ con người phạm phải.
Theo một số mặc khải, có hai mươi chướng ngại như vậy, thương được gọi là "trạm thu thuế" (tollhouses),4 và mỗi trạm sẽ rà soát các tội lỗi khác nhau. Sau khi đã vượt qua một trạm, linh hồn sẽ đến trạm tiếp theo; chỉ sau khi vượt qua tất cả, linh hồn mới có thể tiếp tục hành trình của mình, và không bị quăng xuống hoả ngục (Gehenna) ngay lập tức. Lũ quỷ dữ và những "trạm thu thuế" của chúng kinh khủng đến mức ngay cả khi Đức Mẹ Maria được Tổng lãnh Thiên thần Gabriel thông báo về sự qua đời của mình, Mẹ đã cầu nguyện với Con trai mình để giải thoát khỏi những ác quỷ đó.5 Ðáp lại lời cầu nguyện của Mẹ, chính Chúa Giêsu Kitô đã xuất hiện từ Thiên Đàng để đón lấy linh hồn của Mẹ Maria Rất Thánh và đưa lên Thiên Đàng. Ngày thứ ba là ngày cực kỳ kinh hãi đối với linh hồn người đã khuất, và do đó linh hồn đặc biệt cần những lời cầu nguyện vào lúc đó.
Sau khi vượt qua thành công các "trạm thu thuế" và phủ phục trước Chúa, linh hồn trong ba mươi bảy ngày tiếp theo sẽ viếng thăm Cõi Thiên Đàng và vực thẳm của địa ngục, vẫn chưa biết mình sẽ đi đâu về đâu, và chỉ cho đến ngày thứ bốn mươi thì vị trí của nó mới được ấn định cho đến ngày Phục sinh của kẻ chết. Một số linh hồn sẽ được nếm trước niềm vui và phước hạnh vĩnh hằng, trong khi những linh hồn khác sẽ sống trong nỗi sợ về sự hành hạ vĩnh hằng, điều sẽ đến một cách toàn vẹn sau Ngày Phán Xét Cuối Cùng. Cho đến lúc đó, tình trạng của các linh hồn có thể được thay đổi, đặc biệt là nhờ sự Hy Tế Vô Huyết - Bloodless Sacrifice (được tưởng nhớ tại Phụng vụ), và qua những lời cầu nguyện khác.
Sự kiện sau đây cho thấy việc tưởng nhớ trong Phụng vụ quan trọng đến nhường nào. Vào lễ khai quật thánh tích của Thánh Theodosius thành Chernigov (năm 1896), đức linh mục đang thay lại phẩm phục cho thánh tích cảm thấy mệt mỏi, ông ngồi xuống gần đó và ngủ gật. Ông nhìn thấy trước mặt mình đức thánh nhân, thánh nói với ông: “Cảm ơn ngươi đã vì ta mà vất vả. Ta cũng xin ngươi hãy tưởng nhớ cha mẹ ta khi cử hành Phụng vụ,” và thánh nhân nói tên của họ (Linh mục Nikita và Maria). Đức linh mục hỏi: “Vì lẽ nào mà cha, một thánh nhân, lại xin con cầu nguyện cho cha mẹ mình, trong khi chính cha đang đứng trước Ngai của thiên đàng, ban sự thương xót của Chúa cho dân chúng?!” “Đúng như vậy,” Thánh Theodosius trả lời, “nhưng hy tế trong Phụng vụ lại linh nghiệm hơn lời cầu nguyện của ta.”
Như vậy, pannikhidas (kinh cầu cho người đã khuất) và những lời cầu nguyện tại nhà cho người đã khuất là giúp ích được cho họ, cũng giống như những việc thiện lành được làm để tưởng nhớ họ, chẳng hạn như việc bố thí người nghèo hoặc quyên góp cho nhà thờ. Nhưng việc tưởng nhớ họ trong Phụng vụ là đặc biệt hữu ích. Đã có nhiều sự xuất hiện của người đã khuất và những sự kiện khác xác nhận việc tưởng nhớ người đã khuất là phúc lợi như thế nào. Nhiều người đã xưng tội trước khi chết nhưng lại không có cơ hội để thể hiện sự ăn năn hối cải trong khi đang sống thì đã được giải thoát khỏi sự hành hạ và được yên nghỉ. Những lời cầu nguyện luôn được vang lên trong nhà thờ để cầu cho sự an nghỉ vĩnh hằng của người đã khuất, và thậm chí vào ngày Chúa Thánh Linh Hiện xuống (Lễ Ngũ tuần), trong những “lời cầu quỳ” tại Kinh chiều, có một lời cầu nguyện đặc biệt “cho những người bị giam cầm trong địa ngục.”
Mỗi người chúng ta, nếu muốn thể hiện tình thương đối với người đã khuất và mang đến cho họ sự giúp đỡ thực sự, thì cách tốt nhất là cầu nguyện cho họ, và đặc biệt là nhờ tưởng nhớ họ trong Phụng vụ, khi mà các mảnh của con Chiên dành cho người đang sống và người đã khuất được thả vào Huyết của Chúa:"Xin hãy rửa sạch, Lạy Chúa, tội lỗi của tất cả những người được tưởng nhớ ở đây, nhờ vào Huyết Quý Báu của Chúa: qua lời cầu nguyện của các Thánh Nhân của Ngài."
Chúng ta không thể làm gì tốt hơn hay to lớn hơn cho người đã khuất bằng việc cầu nguyện cho họ, tưởng nhớ đến họ trong Phụng vụ. Họ luôn cần điều này, nhưng quan trọng nhất là trong bốn mươi ngày khi mà linh hồn đi về cõi vĩnh cữu. Khi đó, thân thể sẽ không còn cảm thấy gì: nó không nhìn thấy những người thân yêu tụ tập, không ngửi thấy mùi thơm của hoa, không nghe thấy những lời độc thoại bên mộ. Nhưng linh hồn cảm nhận được những lời cầu nguyện dành cho nó, và biết ơn những người cầu nguyện và ở gần những lời cầu nguyện một cách tâm linh.
Thưa quý gia đình và bạn bè của người đã khuất! Hãy làm những gì cần thiết và nằm trong khả năng của mình cho họ! Đừng tốn kém vào việc bày biện vẻ bề ngoài của quan tài và bia mộ, mà hãy dùng tiền đó để giúp đỡ người nghèo khó nhân danh người thân yêu đã khuất của mình, và quyên góp cho nhà thờ nơi cất lên những lời cầu nguyện cho họ. Hãy thương xót người đã khuất, chăm sóc cho linh hồn của họ.
Tất cả chúng ta đều sẽ phải trải qua cuộc hành trình đó. Lúc đó, chúng ta sẽ mong ước rằng mọi người sẽ cầu nguyện cho mình nhiều biết bao! Vì thế, chúng ta hãy tự mình nhân từ với người đã khuất.
Ngay khi có người qua đời, hãy gọi điện hoặc nhắn tin ngay lập tức để yêu cầu linh mục đọc “Những lời cầu tiễn biệt linh hồn." Đây là những lời cầu nguyện cần được đọc cho mọi Kitô hữu Chính thống giáo ngay sau khi họ qua đời.
Nếu có thể, hãy cố gắng tổ chức tang lễ ngay trong nhà thờ và đọc Thánh Vịnh bên thi hài người đã khuất cho đến khi bắt đầu lễ tang. Tang lễ không cần phải cầu kỳ, nhưng phải được cử hành đầy đủ, không được rút ngắn bất kỳ phần nào; đừng nghĩ về bản thân và sự tiện lợi của mình, mà hãy nghĩ về người đã khuất, người mà ta đang phải vĩnh biệt. Nếu có nhiều người qua đời trong nhà thờ, đừng yêu cầu cử hành tang lễ riêng biệt cho từng người. Bởi vì lời cầu nguyện của tất cả người thân gộp lại sẽ trở nên linh nghiệm hơn rằng tổ chức tang lễ theo lượt và bị rút ngắn do thiếu thời gian và sức lực; bởi vì mỗi lời cầu nguyện cho người đã khuất đều giống như một giọt nước cho người khát.
Nhớ không quên yêu cầu lễ tưởng nhớ bốn mươi ngày - tức là tưởng nhớ hàng ngày trong bốn mươi ngày tiếp theo tại Phụng vụ. Thông thường, ở những nhà thờ cử hành Phụng vụ hàng ngày, những người đã khuất được làm tang lễ ở đó sẽ được tưởng nhớ trong bốn mươi ngày hoặc hơn. Nếu tang lễ được cử hành ở một nhà thờ không có Phụng vụ hàng ngày, những người thân yêu nên yêu cầu lễ tưởng nhớ bốn mươi ngày tại một nhà thờ cử hành Phụng vụ hàng ngày. Và việc gửi lời đề nghị cầu nguyện đến các tu viện ở Jerusalem, nơi những lời cầu nguyện luôn được dâng lên tại các địa điểm thiêng liêng, cũng là một điều phước lành. Nhưng lễ cầu nguyện bốn mươi ngày nên bắt đầu ngay sau khi chết, khi linh hồn đặc biệt cần sự giúp đỡ qua lời cầu nguyện. Do đó, việc tưởng nhớ bốn mươi ngày nên bắt đầu ở nơi gần nhất có các buổi lễ hàng ngày.
Chúng ta sẽ chăm sóc những người đã bước sang thế giới bên kia trước chúng ta, và làm mọi điều có thể, hãy nhớ rằng "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương. (Mt 5: 7).
Chú thích
-
Cái chết là số phận chung của mỗi người; nhưng đó không phải là sự kết thúc hoàn toàn, mà chỉ là sự chia cắt giữa linh hồn và thể xác. Sự bất tử của linh hồn con người là một trong những nền tảng cơ bản của Kitô giáo. Người không phải là Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống (Mt 22:32). Ở Kinh Tân Ước, cái chết được gọi là sự "ra đi" (ἔξοδος) của linh hồn: "sau khi tôi ra đi, anh em có thể nhớ lại các điều ấy" (2 Pr 1:15). Nó còn được gọi là sự giải thoát của linh hồn khỏi căn lều tạm (2 Cr 5:1-4; 2 Pr 1:14). ↩
-
Sau khi chết, linh hồn vẫn có khả năng nhận thức, không hề rơi vào cơn mê ngủ. Thánh Gioan Cassian (thế kỷ thứ 5) dạy rằng:
Linh hồn sau khi rời khỏi thế xác sẽ không bất động, sẽ không đánh mất nhận thức; điều này được chứng minh bởi dụ ngôn Tin Mừng về ông nhà giàu và anh La-da-rô (Luca 16:19-28). Linh hồn của người đã chết không bị mất nhận thức, thậm chí chúng còn không mất đi tính tình - nghĩa là hy vọng và sợ hãi, niềm vui và nỗi buồn, và một phần những gì chúng mong đợi cho mình trong ngày Phán Xét Cuối Cùng, chúng bắt đã đầu cảm thấy được trước.
Thánh Theophan người Ẩn sĩ (thế kỷ thứ 19), trong một thông điệp gửi đến một người phụ nữ đang hấp hối, đã viết:
Bà sẽ không chết. Thân thể của bà sẽ chết, nhưng bà sẽ ở một thế giới khác, vẫn sống, vẫn biết mình là ai, và vẫn nhận ra thế giới xung quanh mình.
Thánh Dorotheos (thế kỷ thứ 6) tóm tắt lại những gì các Giáo Phụ đã dạy:
↩Các Giáo phụ dạy rằng, linh hồn của người đã khuất nhớ tất cả mọi điều đã xảy ra ở đây - suy nghĩ, lời nói, ham muốn - và không gì có thể bị lãng quên. Nhưng, như Thánh Vịnh đã viết, "dự định bao điều: ngày ấy tiêu tan." (Thánh Vịnh 146: 4).
Những dự định mà ông ấy (Vua Đa-vít) nói đến là những suy nghĩ của trần thế, về nhà cửa và tài sản, cha mẹ và con cái, và làm ăn và giao dịch. Tất cả những thứ đó sẽ đều biến mất ngay lập tức khi hồn lìa khỏi xác. Nhưng người đó sẽ nhớ những gì mà mình đã làm trái với đức hạnh hoặc phản kháng lại những dục vọng xấu xa của mình, và không điều gì trong những điều này sẽ bị quên đi. Trong thực tế, linh hồn sẽ không quên bất cứ điều gì nó đã làm trên thế gian nhưng sẽ nhớ tất cả mọi thứ khi lìa khỏi thể xác này.
-
Vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời, nếu như thi hài được vây quanh bởi người thân và bạn bè, thì linh hồn cũng sẽ được các thực thể tâm linh tương ứng hộ tống. Linh hồn của người đức hạnh sẽ được các thiên thần của ánh sáng bao quanh, trong khi linh hồn của kẻ có tội bị giày vò bởi các thực thể sa ngã, hay còn gọi là quỷ dữ. Điều này được đề cập trong lời dạy của các Giáo Phụ.
Thánh Macarius của Ai Cập đã viết trong Thuyết Giáo thứ 22 (Đọc thêm tại đây):
Khi linh hồn rời bỏ thân thể, một bí ẩn vĩ đại sẽ xuất hiện. Nếu người đó ra đi với tội lỗi, một đoàn quỷ và những thiên thần sa đoạ và những quyền lực tối tăm sẽ đón chặn linh hồn đó và giữ nó lại với chúng. Không ai trong chúng ta nên ngạc nhiên về điều này. Nếu khi một người đang còn sống, người đó tuân theo và phục tùng lũ quỷ, và tự biến mình thành nô lệ của chúng, thì sau khi qua đời, người đó càng bị chúng giam cầm và trói buộc. Rằng điều này là sự thật, và các anh chị em nên hiểu những gì xảy ra ở phía tốt. Ngay cả bây giờ, các thánh nhân của Chúa luôn được các thiên thần vây quanh, các thánh linh bao bọc và che chở họ. Khi họ lìa khỏi thân thể, các đoàn thiên thần sẽ tiếp quản linh hồn của họ, hộ tống về phía mình, đến thế giới trong sạch, và mang họ đến trước Chúa...
Về vấn đề gặp quỷ dữ sau khi linh hồn lìa khỏi thể xác, tham khảo thêm ở đây ↩
-
Đây được gọi là "Trạm thu thuế," với từ "Thuế" ở đây là ám chỉ những tội lỗi mà ta đã phạm phải khi đang còn sống. Giống như những kẻ thu thuế ngày xưa sẽ kiếm đủ mọi cách để moi hết những đồng tiền mà họ nghĩ là thuộc về họ, lũ quỷ cũng sẽ cố moi móc tất cả những tội lỗi - những điều thuộc về chúng, và thậm chí còn bịa ra những lời vu khống nhằm kéo ta xuống địa ngục. Trang web sau tổng hợp tất cả các nguồn và tư liệu về vấn đề này: nguồn
Thánh Theophan người Ẩn sĩ đã viết:
Cho dù các "Trạm Thu Thuế" nghe có vô lý đến bao nhiêu đối với những "người thông minh" của chúng ta, thì họ cũng không thể tránh khỏi việc phải bước qua chúng.
Khi đề cập về "Trạm Thu Thuế," Đức Tổng giám mục đô thành Macarius trong sách Orthodox Dogmatic Theology đã nhấn mạnh:"Chúng ta phải nhấn mạnh lời hướng dẫn mà Thánh Macarius của Alexandria đã nhận được từ một thiên thần:'Hãy coi những thứ ở trần gian là cách miêu tả thấp nhất của những điều trên thiên đàng.' Chúng ta phải hình dung về "Trạm Thu Thuế" xa nhất có thể trong cách hiểu tâm linh, điều mà bị che lấp trong những đặc điểm của các giác quan và hình dáng con người." (Orthodox Dogmatic Theology - Protopresbyter Michael Pomazansky, tr. 334-335)
Vì thế, cả việc bác bỏ "Trạm thu phí" hay hiểu vấn đề này theo nghĩa đen đều không phải là một cách đúng để tiếp cận vấn đề này. Tham khảo thêm tại đây. Hãy coi đây là một hình ảnh ẩn dụ để đánh thức chúng ta khỏi sự tự mãn và đức tin "hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh" (Kh 3:16), và đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc cầu nguyện cho người đã khuất - Họ cần chúng hơn bao giờ hết! ↩
-
Tham khảo thêm tại đây - chú thích số 10 trong nguồn dẫn. Đức Mẹ của Chúa cầu nguyện để được bảo vệ khỏi các "trạm thu phí" vì Đức Mẹ cực kỳ thánh khiết, và do đó cực kỳ khiêm tốn, không dựa vào chính sức lực của bản thân mình. Truyền thống này không nên được xem là làm giảm đi sự thánh khiết của Mẹ. Giám mục Nathanael của Brussels và Tây Âu đã nói: “Bản tính của sự trinh tiết và khiêm tốn là tránh xa mọi sự tiếp xúc, thậm chí là đến gần những kẻ đầy rẫy những điều nhơ nhớp, trơ tráo và không biết hổ thẹn”. ↩
