Lòng sùng kính Đức Mẹ:
Chính Thống giáo
và Công giáo La Mã
Đức Cha Lawrence Farley ✢
01.08.2024 — 14 phút đọcThần Học và Biện Giải

Chuyển ngữ bởi Savva Tống
Những người chỉ trích Chính Thống giáo từ phía Tin Lành có nhiều điều để phê phán, nhưng một trong những phản đối hàng đầu của họ là sự tôn kính của chúng tôi đối với Đức Maria, Mẹ của Chúa Jesus. Sự thù địch với Công giáo La Mã đã ăn sâu vào DNA của Tin Lành, vì vậy bất cứ điều gì trong Chính Thống giáo giống với Công giáo La Mã sẽ bị chỉ trích, bao gồm những thứ tương đối vô hại như giáo sĩ mặc áo dài và gọi mình là “Cha”. Sự tôn kính của chúng ta đối với Đức Maria (mà chúng ta gọi là “Theotokos” - Thánh Mẫu Thiên Chúa) thường đứng đầu danh sách các phản đối của người Tin Lành, vì nó rất nổi bật trong Công giáo La Mã.
Mặc dù thừa nhận rằng chúng ta chia sẻ nhiều điều với “người bạn” Công giáo La Mã trong sự tôn kính đối với Mẹ Thiên Chúa. Vì Chúa Jesus là Thiên Chúa, chúng ta gọi Mẹ Ngài là “Mẹ Thiên Chúa” như các “bạn bè” Công giáo La Mã của chúng ta, và cầu nguyện cùng Mẹ, xin Mẹ cầu thay và giúp đỡ chúng ta. Cả hai chúng ta đều thừa nhận rằng Mẹ luôn trinh khiết, và có một truyền thống phụng vụ mạnh mẽ ca ngợi Mẹ và xin Mẹ cầu thay. Nhưng cũng có những khác biệt giữa chúng ta và “bạn bè” Công giáo La Mã của chúng ta, và những khác biệt này không hề nhỏ. Tôi muốn trình bày về chúng ở đây.
Trước hết là giáo lý Công giáo La Mã về “Vô nhiễm Nguyên tội” (không liên quan gì đến sự thụ thai/trinh sinh của Chúa Jesus). Ý tưởng đằng sau giáo lý này là khi Maria được thụ thai trong bụng của Thánh Anna, có một sự truyền thụ ân sủng cùng với các thành phần vật lý của sự thụ thai của Mẹ để Mẹ được thụ thai và được thánh hóa cùng lúc. Giáo lý này được công bố vào năm 1854 như một “lối thoát” từ một tình thế khó khăn mà giáo lý của Thánh Augustin đã vô tình để lại cho Giáo hội phương Tây. Vị Thánh vĩ đại của phương Tây này dạy rằng mọi người trên thế giới đều được thụ thai và sinh ra với tội tổ tông—tức là tội lỗi đáng bị nguyền rủa của Adam, vì vậy trẻ sơ sinh và trẻ em chết khi chưa được rửa tội sẽ xuống địa ngục. (Giáo hội phương Đông chưa bao giờ theo ông về điểm này.) Điều này có nghĩa là mọi người sinh ra trên thế giới đều là đối tượng của cơn thịnh nộ của Chúa và tiếp tục như vậy cho đến khi họ được rửa tội.
Nhiều người cho rằng thật không thể chịu đựng được khi tưởng tượng rằng Mẹ của Chúa Jesus lại từng là đối tượng của cơn thịnh nộ thần thiêng, và vì vậy cuộc tranh luận về vấn đề này tiếp tục trong Giáo hội phương Tây thời trung cổ. Anselm đã dạy rằng bà được thụ thai và sinh ra trong tội lỗi (trong tác phẩm Cur Deus Homo của ông); Bernard (và sau này là Aquinas) đã dạy rằng bà được thụ thai trong tội lỗi nhưng được thánh hóa trước khi sinh. Các tu sĩ dòng Phanxicô đã lập luận cho một sự thụ thai vô tội. Đối với người Công giáo La Mã, vấn đề đã được giải quyết dứt khoát bằng Tông thư Ineffabilis Deus của Giáo hoàng Piô IX vào năm 1854. Sắc chỉ tuyên bố rằng «Để làm hiển danh Thiên Chúa Ba Ngôi thánh thiện và duy nhất, để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, để đề cao đức tin Công Giáo và để phát huy Kitô giáo, với quyền năng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta và của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô,…: Sự xác tín rằng, ‘Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai trong lòng mẹ, đã nhờ một ơn huệ đặc biệt độc nhất vô nhị của Thiên Chúa Toàn Năng, dựa vào công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc của toàn thể nhân loại, được gìn giữ toàn vẹn khỏi mọi nguy hại của tội nguyên tổ,’ đã được Thiên Chúa mặc khải và vì thế buộc mọi tín hữu phải tin thật như thế.
Chính Thống giáo bác bỏ giáo lý này, vì chúng ta chưa bao giờ tin rằng bất kỳ ai trên thế giới được sinh ra với “tội tổ tông”, và vì vậy chúng ta không bao giờ cần lối thoát giáo lý được đưa ra trong Ineffabilis Deus. Một vấn đề lớn hơn so với định nghĩa giáo lý năm 1854 là khoảng cách tâm lý mà nó dường như tạo ra giữa Theotokos và phần còn lại của chúng ta. Theo lời của cố Linh mục Thomas Hopko, trong tư tưởng Công giáo La Mã, Đức Maria không còn là tấm gương vĩ đại cho chúng ta, mà là sự ngoại lệ vĩ đại. Đó là, bất kể các giáo lý Công giáo La Mã thực sự dạy gì về Maria, trong lòng sùng kính phổ biến của giáo hội Công giáo La Mã, bà có xu hướng lệch qua và đứng về phía không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Tôi nhớ đã thấy phần này của lòng sùng kính phổ biến được minh họa trong một nhà tĩnh tâm Công giáo La Mã nơi tôi đã từng ở. Có các cây thánh giá và các bảng nguyện khắp nơi, và một bảng nguyện kêu gọi một vị thánh khá nhỏ (có thể tên là “Mary Theresa”, mặc dù trí nhớ không rõ) nói rằng, “Thánh Maria Theresa, hãy cầu nguyện với Chúa Jesus và Mẹ Maria cho chúng con!”
Lưu ý: không phải (như trong Chính Thống giáo) “hãy cầu nguyện với Chúa cho chúng con” hoặc “hãy cầu nguyện với Chúa Ki-tô cho chúng con”, mà là “hãy cầu nguyện với Chúa Jesus và Mẹ maria cho chúng con”. Thánh Mary Theresa có thể là một trong số chúng ta, nhưng Đức Maria - Mẹ của Chúa Jesus thì không. Mẹ là ngoại lệ vĩ đại, chia sẻ sự vô nhiễm tội lỗi của Thiên Chúa. Không còn nghi ngờ gì nữa, người viết câu kinh nguyện này không ngốc đến mức tưởng rằng Đức Maria là một phần của Thiên Chúa Ba Ngôi như Chúa Jesus, nhưng đó chính là điểm quan trọng: câu kinh nguyện này chứng tỏ một xu hướng sùng kính vô thức, một sự trôi dạt cảm xúc không suy nghĩ của người Công giáo La Mã đối với Đức Maria (nếu không nói là báng bổ).
Sự trôi dạt cảm xúc này là không thể xảy ra trong Chính Thống giáo, nơi mà ranh giới giữa Theotokos và Con của Mẹ luôn được nhấn mạnh. Ví dụ, trong Chính Thống giáo, mọi buổi lễ nhà thờ đều kết thúc bằng một lời giải tán như sau: “Nguyện xin Chúa Ki-tô, Thiên Chúa chân thật của chúng ta, qua lời cầu nguyện của Đức Mẹ trong trắng nhất của Ngài, của các Thánh Tông đồ vinh quang, đáng ca ngợi nhất, của các Tổ phụ thánh thiện và công chính của Thiên Chúa Joachim và Anna, và của tất cả các Thánh, thương xót chúng ta và cứu rỗi chúng con”.
Lưu ý: Đức Maria - Theotokos, ở đây đứng cùng với Giáo hội và các thánh khác cầu nguyện cho chúng ta với Chúa Ki-tô. Mẹ đứng cùng với các tông đồ vinh quang, đáng ca ngợi nhất, cùng với các tổ tiên thánh thiện và công chính của Thiên Chúa - Thánh Joachim và Anna, và cùng với tất cả các Thánh—và do đó đứng cùng chúng ta ở phía bên của ranh giới ngăn cách Chúa Ki-tô với Giáo hội của Ngài. (Chúng ta thấy điều này một cách trực quan trong biểu tượng Deesis, trong đó Chúa Ki-tô ngự trên ngai và Mẹ Ngài cùng Thánh Ioann Tiền hô của Ngài đứng ở hai bên, với đôi tay giơ lên trong lời cầu nguyện can thiệp) Với sự nhất quán phụng vụ này trong Chính Thống giáo, chúng ta khó có thể thấy một tấm bảng ghi “Thánh Olga của Alaska, xin cầu nguyện với Chúa Jesus và Mẹ Maria cho chúng con” trong tương lai gần. Dù chúng ta có chung tình yêu dành cho Đức Mẹ, sự hiểu biết của Chính Thống giáo về vị trí của Mẹ có phần khác biệt so với “bạn bè” Công giáo La Mã của chúng ta.
Tôi nghi ngờ rằng chính sự khác biệt tình cảm trong lòng sùng kính này, sự tách biệt vô thức và không được nhận ra của Đức Maria khỏi phần còn lại của Giáo hội, đã thúc đẩy việc hiện nay tôn vinh bà như một đấng “Đồng công cứu chuộc”—tức là một đấng cứu chuộc thế giới cùng với Con của bà (dù hiện này về mặc tuyên bố niềm tin này đã bị bác bỏ vai trò đã từng tồn tại trong lịch sử học thuyết Công giáo).
Những người giải thích giáo lý này rất cẩn thận trong định nghĩa của họ để bảo vệ vai trò độc nhất vô nhị của Chúa Ki-tô như Chiên Con của Chúa, Đấng mà Huyết của Ngài đã chuộc tội cho thế giới, và làm rõ rằng Đức Maria có một vai trò phụ thuộc. Những giải thích này dường như lấy đi bằng một tay những gì đã được trao bởi tay kia trong danh hiệu. Nghĩa là,bthay vì giải thích rõ ràng vai trò của Đức Maria như đấng đồng cứu chuộc, họ lại làm cho nó trở nên mơ hồ và khó hiểu. Nhưng tôi tự hỏi rằng: tại sao lại thúc đẩy danh hiệu này (và sự tuyên bố tương lai của nó như một giáo lý) ngay từ đầu? Có phải đây chỉ là một ví dụ khác của cái gọi là “cổ máy giáo lý của giáo hoàng hoạt động hết công suất” để giáo lý được nhân lên không? Có thể! Nhưng đối với tôi, có vẻ như điều này là kết quả của việc vô thức coi Đức Maria như một Ngoại lệ Vĩ đại, một hiện tượng đặc biệt về bản chất, hoàn toàn khác biệt so với các thánh và chúng ta.
Chắc chắn rằng bất kỳ cuộc thảo luận nào về Mary như đấng “đồng cứu chuộc” đều có khả năng cản trở tiến trình đại kết và làm trầm trọng thêm những khác biệt đã tồn tại giữa Giáo hội giáo hoàng và tất cả các Giáo hội khác. Điều này thậm chí đã được một số nhà thần học Công giáo La Mã thừa nhận, một trong số họ đã nói rằng việc kiến nghị phổ biến ý kiến này như một giáo lý là “không đủ về mặt thần học, sai lầm về mặt lịch sử, thiếu khôn ngoan về mặt mục vụ, và không thể chấp nhận được về mặt đại kết”. Đúng: nhưng tại sao nó vẫn đang được thúc đẩy bởi một số người? Tôi trả lời: vì đó là kết quả của một xu hướng vô thức, chứ không phải từ sự suy luận thần học.
Sự khác biệt khác liên quan đến cái gọi là “cuộc hiện ra” của Đức Maria ở những nơi như Lourdes, Fatima và Medjugorje. Thừa nhận rằng tôi chưa thực hiện cuộc thăm dò nào, nhưng trong nhiều thập kỷ phục vụ Chính Thống giáo, tôi không nhớ có một linh mục Chính Thống nào tin vào tính hợp pháp và sự thật của các lần hiện ra này của Đức Maria. Một số khía cạnh của các lần hiện ra này thực sự làm căng thẳng lòng tin: ví dụ, tại Fatima, Mẹ của Thiên Chúa được cho là đã tiết lộ khi được hỏi rằng một đứa trẻ vừa qua đời sẽ ở trong Luyện ngục “cho đến tận thế”—một ý nghĩ đáng lo ngại về một đứa trẻ nhỏ như vậy, đó là lý do tại sao câu trả lời này đã bị giấu đi trong một số phiên bản của câu chuyện Fatima. Tại Fatima, Đức Maria cũng được cho là đã hứa rằng nếu Nước Nga được hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ thì sự chuyển đổi từ Chính Thống giáo sang Công giáo La Mã sẽ được hứa hẹn thành sự cách “vô điều kiện”.
Ngoài ra, còn có điều gì đó kỳ lạ trong hành vi được báo cáo của các lần hiện ra. Ví dụ, trong các câu chuyện ở Fatima, Đức Maria nói với những đứa trẻ rằng hãy quay lại một nơi nhất định vào ngày 13 mỗi tháng trong sáu tháng tới, “và sau đó Ta sẽ nói cho các con biết Ta là ai và Ta muốn gì”. Ngoài ra, tại Lourdes, đứa trẻ nhỏ Bernadette đã thấy Đức Maria sử dụng một chuỗi hạt Mân Côi—Đức Maria đang cầu nguyện với chính mình sao? Hơn nữa, Bernadette ban đầu không biết rằng hiện thân đó là Đức Maria, và gọi “vật trắng có hình dạng của một cô gái” là “Aquero”—tức là “cái này”.
Khái niệm về Mẹ của Thiên Chúa tự tiết lộ mình theo cách này là chưa từng có trong Giáo hội sơ khai. Các Thánh (chẳng hạn như Thánh Gregory Đấng hay làm phép lạ) đã có những thị kiến về Đức Theotokos, nhưng những thị kiến như vậy đã được chuẩn bị và làm cho an toàn về mặt tâm linh bởi sự khiêm nhường của Thánh nhân, người ngay lập tức nhận ra Đức Theotokos khi Mẹ tự tiết lộ chính mình. Những tiết lộ như vậy xảy ra bất ngờ đối với trẻ em và với những trò chơi (“sau này Ta sẽ nói cho các con biết Ta là ai”) là trái với Truyền thống của Giáo hội và không thể làm điều gì để khẳng định tính hợp pháp của chúng cả. Có lẽ do đó không ngạc nhiên khi rất ít người Chính Thống giáo chấp nhận các lần hiện ra của Đức Maria như những lần xuất hiện hợp pháp của Đức Theotokos chân thật.
Tôi gợi ý rằng có những khác biệt đáng kể giữa sự sùng kính của Công giáo La Mã đối với Mẹ của Thiên Chúa và sự sùng kính của Chính Thống giáo.
Những người kịch liệt từ chối bất kỳ sự sùng kính nào đối với Đức Maria tất nhiên cũng sẽ coi những khác biệt này là hoàn toàn không đáng kể. Như C. S. Lewis đã từng nhận xét, “Đối với những người không thể chịu đựng được sự hiện diện của một con mèo, thì con mèo đực đầu vuông khổng lồ và con mèo goblin nhỏ mặt khói từ Siam đều giống nhau”. Nhưng những người yêu mèo sẽ thấy hai con mèo này khác biệt rõ rệt (và thú vị). Những khác biệt đáng kể như vậy tồn tại giữa Chính Thống giáo và “bạn bè” Công giáo La Mã của chúng ta.