Muối Của Đất
Muối Của ĐấtTư liệu về Chính Thống giáo Đông phương

Từ Phật giáo
đến Chính Thống giáo

Nilus Stryker

31.08.2024 59 phút đọc
Lời Chứng
Thánh Joasaph Vị Vua của Ấn Độ
Biểu tượng các Thánh Barlaam (trái) và Joasaph (phải). Theo truyền thống, vào thời kỳ hoàng đế Constantinus Đại đế trị vì, hoàng tử Joasaph của Ấn Độ vốn là một người ngoại đạo. Nhưng sau khi được tu sĩ Barlaam giác ngộ, ông đã quyết định theo đạo Kitô. Đọc thêm về câu chuyện và các chú thích tại đây.

Tôi đã là một Phật tử trong mười năm. Tôi được thọ giới sau bảy năm học tập cùng sư thầy trong một nhánh nhỏ của phái Ninh-mã thuộc Phật giáo Kim cương thừa (Tây Tạng). Tôi có một sư thầy hướng dẫn tâm linh, người mà tôi vẫn yêu mến đến tận bây giờ. Ông vẫn là một tấm gương của lòng tốt trong cuộc đời tôi. Chính nhờ vào sự chỉ dạy của ông, tôi đã bắt đầu nhìn nhận thế giới bằng một đôi mắt và trái tim rộng mở hơn.

Tôi được thụ phong làm hành giả Ngakpa của phái Ninh-mã. Ngakpa là một loại thụ phong thuộc đát-đặc-la (linh mục) mặc dù có lời thề (damtsig), những lời thề đó không dựa trên việc sống độc thân hay kiêng thịt và rượu.

Tăng đoàn (sangha) của chúng tôi không phải là những người xuất gia mà chỉ tuân theo những hướng dẫn cơ bản trong Đát-đặc-la (tantra)Đại cứu cánh (dzogchen). Cả hai đều dựa trên việc chuyển hóa, hơn là việc buông bỏ mọi thứ, và những khoảnh khắc giác ngộ bất chợt mà nhấp nháy trong một khoảng thời gian với một cường độ nhất định để dẫn đến rigpa (một trạng thái tâm trí và nhận thức dựa trên việc thả lỏng vào trạng thái giác ngộ tự nhiên). Những khoảnh khắc đó được truyền lại bởi sự can thiệp năng lượng của sư thầy hoặc khả năng “thả lỏng” của chúng tôi vào cấu trúc và sự kết cấu của việc trải nghiệm về sự tồn tại và không tồn tại, được tạo ra bởi các phương pháp mà chúng tôi được dạy. Qua nhiều năm, những khoảnh khắc ấy dần được bộc lộ qua việc nhìn nhận thế giới với tấm lòng ngày càng tốt, biết ơn và trắc ẩn hơn.

ngakpa
Hành giả Ngakpa (nguồn: ngakpa.org)

Thầy tôi từng nói rằng Phật giáo là chín mươi chín phần trăm phương pháp và một phần trăm chân lý. Phật giáo cung cấp các phương pháp để phát triển sự rõ ràng và khả năng nhận thức để bạn phân định được một thực tại không bị bóp méo do tâm trí bất ổn và các phản ứng theo thói quen.

Chúng tôi thuộc một dòng không tổ chức nghi lễ, và cốt lõi trong phương pháp tu tập là những buổi ngồi thiền yên lặng, nhạc thiền yoga, câu chú (mantra) và các bài tập kết hợp giữa tâm lý và tâm linh. Tôi đã hành hương đến các địa điểm linh thiêng ở Nepal và tham gia các khóa tu cùng sư thầy và các anh chị em kim cương chử (vajra) ở cả Mỹ và xứ Wales. Các khóa tu đó, cả khi tu tập chung và riêng lẻ, đều rất ý nghĩa trong cuộc đời tôi. Có thể nói rằng, tôi đã có một số khoảnh khắc “giác ngộ” trong tầm nhìn, quan điểm và trải nghiệm, và tôi nghĩ rằng đó là nhờ sư thầy và những phương pháp mà tôi đã được nhận.

Một buổi chiều cuối tháng một năm 1999, tôi đến phòng thờ của mình để tu tập hàng ngày. Thông thường tôi bắt đầu bằng nhạc thiền yoga và đọc câu chú, sau đó là ngồi thiền trong yên lặng. Tôi thắp nến lên bàn thờ, và sau khi hoàn thành bài hát và câu chú của mình, tôi bắt đầu tu tập trong yên lặng. Tôi không thể nói chính xác mình đã ngồi bao lâu khi tôi chợt nghe thấy chính giọng nói của mình thốt lên, “Tôi nhớ Chúa Giêsu.” Tôi đã nói to một cách rõ ràng. Dường như giọng nói đó đã đi ngang qua tôi chứ không phải do tôi thốt ra, nhưng không hề có giọng nói nào ở bên ngoài. Rõ ràng là tôi đã nói điều đó.

Khi tôi nói “Tôi nhớ Chúa Giêsu,” lòng tôi đã tràn ngập một sự khao khát. Tôi không biết gọi nó bằng điều gì khác. Tôi cảm thấy đau. Tôi thấy lòng bỗng đau nhói. Tôi cảm thấy một sự khao khát tuyệt đối và không thể tin được. Tôi cố gắng tập trung lại sự chú ý và nhận thức của mình để tiếp tục thiền định. Thường khi đang thiền định, người tu tập hay trải nghiệm những cảm giác, mùi vị, ảo ảnh thị giác, âm thanh khác thường, những sự bất thường trong tâm linh-tâm lý (psycho-spiritual). Những điều này có thể khiến cho họ bị lệch khỏi quỹ đạo và bị phân tâm khỏi sự đến và đi của những suy nghĩ, và mục đích tu luyện là để cho những suy nghĩ đó có thể xuất hiện và biến mất mà không bị bám rễ.

Phương pháp tôi đang được tu tập là để cố gắng không bám rễ vào bất kỳ suy nghĩ nào, và nhờ vậy, những suy nghĩ đó sẽ không biến thành một giọng nói nội tâm hoặc một câu chuyện. Vì vậy, tôi cố gắng nhìn nhận trải nghiệm này như một nyam (trải nghiệm thiền định) và không để ý nhiều đến nó.

Tôi không thể nào tập trung lại, cũng như không thể thư giãn hay đứng dậy. Tôi nghĩ, chà, đó là những thứ của thời thơ ấu mà tôi đang nhìn nhận lại trong quá trình thiền định của mình. Đó là những gì mà mama-papa hay nói, và đó là một tình yêu thương mà tôi muốn nhưng không thể có được, đó chính là Kitô giáo thời thơ ấu của tôi. Mặc dù cha mẹ tôi là những Kitô hữu trên danh nghĩa nhưng tôi lớn lên trong Giáo Hội Trưởng lão, chủ yếu là vì nhà thờ đó gần nhà chúng tôi. Chắc chắn cha mẹ tôi không phải là những người cuồng tín.

Tôi kết thúc buổi tập và vào bếp bắt đầu rửa bát. Tôi làm việc nhà và không nghĩ nhiều về nó ngoại trừ cái cảm giác khao khát vẫn còn đó, không có một dấu hiệu tan biến. Dù cố gắng như thế nào, tôi cũng không thể rũ bỏ được trải nghiệm đó. Khi tôi nói “Tôi nhớ Chúa Giêsu,” tôi đã tràn ngập một nỗi khao khát. Một nỗi khao khát khủng khiếp trong tôi mà tôi không thể bỏ qua hay giải thích được. Tôi đã không nhắc đến điều này với vợ mình nhưng tôi không thể ngừng nghĩ về nó hay tìm thấy sự giải tỏa từ nỗi đau và sự tổn thương này. Chúng tôi đã có một buổi tối bình thường, xem truyền hình một lúc, trò chuyện và sau đó tôi vào phòng làm việc để vẽ. Tôi là một họa sĩ và phòng làm việc của tôi gắn liền với ngôi nhà và tôi ngủ ở đó hầu hết các đêm nếu vẽ muộn. Sau một vài nỗ lực vô vọng để hoàn thành một bức tranh mà tôi đã bắt đầu, tôi đi ngủ.

Đêm đó vào lúc ba giờ sáng, tôi thức giấc bởi một “sự hiện diện” trong phòng của mình. Tôi không biết gọi nó là gì khác. Tôi cảm thấy một “sự hiện diện của Nỗi Khao Khát” trong phòng. Tôi lo lắng rằng có ai đó đã đột nhập vào nhà. Tôi bật dậy và kiểm tra tất cả các phòng. Không có ai khác trong nhà (ngoại trừ vợ tôi) và cô ấy vẫn đang ngủ say. Vì tôi đã thức dậy nên tôi quyết định sẽ thực hiện các bài tu tập và đi đến bàn thờ của mình trong phòng làm việc. Tôi ngồi thiền có lẽ từ ba mươi đến bốn mươi lăm phút và sau đó trở lại giường ngủ.

Sáng hôm sau, tôi đảm bảo tất cả các cửa đều đã khóa và nhìn quanh nhà một cách lo lắng để xem liệu tôi có thể tìm thấy bất cứ lý do gì cho “sự hiện diện” đó không. Chúng tôi không nuôi thú cưng và tôi đã hỏi Diane liệu cô ấy có dậy vào đêm vì lý do gì không. Vợ tôi đã ngủ rất say và hỏi liệu có điều gì bất ổn. Tôi nói rằng tôi đã thức dậy và không thể ngủ được một lúc. Tôi ngần ngại không nói gì thêm về cảm giác của “sự hiện diện.” Tôi không muốn làm vợ mình sợ và tôi không muốn cô ấy nghĩ rằng tôi bị điên.

Đêm tiếp theo, tôi lại được “gọi” dậy. Tôi không thể nói chính xác cảm giác đó như thế nào ngoài việc “sự hiện diện” đó đang ở trong phòng. Không một ánh sáng, không ảo giác, không âm thanh, không hào nhoáng, không có chuyện tâm thần phân liệt nào (theo như tôi hiểu), nhưng chắc chắn là một cảm giác rằng tôi được gọi dậy bởi một sự hiện diện. Tôi chỉ có thể nói rằng đó là một “sự hiện diện của Nỗi Khao Khát.” Lòng tôi đau nhói, tổn thương, và khao khát một điều gì đó mà tôi không thể diễn tả được. Tôi cảm thấy mình cách xa nhà hàng triệu dặm.

Bạn phải hiểu rằng cuộc sống của tôi khá hạnh phúc. Hai vợ chồng chúng tôi đã chúng sống với nhau 25 năm, và chúng tôi yêu nhau rất nhiều. Cả hai đều là hoạ sĩ và đều ăn nên làm ra trong lĩnh vực này. Chúng tôi có một ngôi nhà nhỏ và một khu vườn ở một thị trấn ven biển nhỏ ở miền Bắc California gần San Francisco, nơi chúng tôi rất yêu thích. Tôi có một sư thầy tâm linh tuyệt vời, và tôi đã thề và cam kết với tông phái Phật giáo và con đường của mình. Tôi khá là khỏe mạnh với một người đàn ông mập ngoài năm mươi. Mọi thứ nói chung đều ổn. Không có khủng hoảng lớn. Không có gì có thể giải thích được những trải nghiệm mà tôi đã trải qua cũng như cái cảm giác khao khát mãnh liệt mà tôi đang có. Tôi cảm thấy như đang yêu nhưng tôi không biết yêu ai hay yêu cái gì. Tôi như một cậu bé mới lớn biết yêu. Tôi không thể ngừng cảm thấy đau đớn, khao khát, và bối rối. Tất cả chuyện này đã bắt đầu khi tôi nói “Tôi nhớ Chúa Giêsu” nhưng tôi không thể tin rằng đó thực sự là nguồn gốc của nỗi đau này. Nó phải là điều gì đó khác. Nhưng tôi không biết nó là gì. Tôi đã cố gắng sắp xếp mọi thứ một cách hợp lý, lập danh sách các nguồn gốc, động cơ, các sự kiện có thể dẫn đến nỗi khao khát này. Và tôi bị mắc kẹt. Không có gì trong danh sách này giải thích được nỗi khao khát này, và chắc chắn không thể giải thích được cái cảm giác rằng có một sự hiện diện trong phòng tôi vào ban đêm.

Trong suốt một tuần liên tục, tôi đều bị đánh thức vào lúc ba giờ sáng. Tôi bắt đầu cảm thấy hơi sợ hãi. Tôi không có bất kỳ lời giải thích nào cho những gì đang diễn ra và cũng không biết phải giải quyết ra sao. Tôi nhận ra rằng điều này vượt quá mọi trải nghiệm mà tôi từng có và hy vọng rằng sư thầy có thể giúp tôi hiểu và đối phó với những gì tôi đang trải qua. Nếu có ai biết chuyện gì đang xảy ra thì đó chính là sư thầy của tôi.

Cuối cùng, tôi liên lạc với thầy ở xứ Wales và kể lại toàn bộ chuỗi trải nghiệm. Thầy cho tôi tên của một “vị thần” Tây Tạng để cầu nguyện và một câu chú liên quan đến “Bản thể Nhận thức” đó (tăng đoàn chúng tôi sử dụng thuật ngữ Bản thể Nhận thức thay vì thuật ngữ truyền thống là vị thần). Thầy bảo rằng nếu những trải nghiệm này tiếp tục xảy ra, hãy ngồi thiền và niệm câu chú mà thầy đã dạy.

Đêm đó, tôi lại bị đánh thức bởi cái cảm giác có một “sự hiện diện.” Tôi đến bàn thờ và thắp nến. Tôi ngồi thiền im lặng một lúc trước khi sử dụng câu chú và gọi tên vị thần Phật giáo như thầy đã hướng dẫn. Đó là một buổi thiền mạnh mẽ. Có một sự yên tĩnh sâu lắng và tôi cảm nhận được một sự bình an và tĩnh lặng bao trùm căn phòng. Tôi gọi tên của Bản thể Nhận thức như lời thầy Rinpoche (danh xưng tôn kính dành cho một thầy dạy trong Kim cương thừa, có nghĩa là Viên Ngọc Quý). Bất ngờ, tôi nghe một giọng nói: “Ta không phải là thứ đó.” Tôi không biết giọng nói phát ra từ đâu. Nó nghe giống như giọng nói của tôi mặc dù tôi không thực sự nhớ mình đã nói những lời đó. Tôi không thể nói chính xác liệu giọng nói đó là bên trong hay bên ngoài, nhưng đó là một giọng nói rõ ràng và dứt khoát: “Ta không phải là thứ đó.”

Tôi hoàn toàn choáng váng. Tôi ngồi lặng im và không nói nên lời. Tôi đứng dậy và đi ra ngoài. Có lẽ lúc đó là ba giờ rưỡi sáng và có một vầng trăng nhạt hiện trên biển. Tôi ngồi trên bậc thềm trước nhà và bắt đầu khóc. Nỗi khao khát và đau đớn trong lòng không hề giảm bớt mà dường như còn tăng lên. Tôi hoàn toàn bế tắc và biết chắc rằng một điều gì đó đang diễn ra. Tôi chỉ không biết đó là gì. Tôi khóc hết lòng mình. Tôi nức nở. Cuối cùng, tôi ngẩng đầu lên và hỏi, “Ngài là ai?”

Khi tôi nói những lời đó, một điều kỳ diệu đã xảy ra. Xin hiểu rằng tôi không biết diễn tả sao cho phù hợp. Tôi không thể giải thích làm sao hay tại sao nó lại xảy ra. Tôi là kẻ ngu ngốc nhất. Tôi không có quyền cố gắng giải thích điều gì đã xảy ra hay nói rằng tôi đã hiểu hay xứng đáng với điều đó. Nhưng khi tôi nói những lời đó, lòng tôi tràn ngập một Ánh Sáng mềm mại. Tôi biết điều này thật khó hiểu nhưng lòng tôi tràn ngập Ánh Sáng đó. Đó không phải là ánh sáng có thể nhìn thấy theo cách thông thường. Đó là một sự sáng tỏ lấp đầy trong tôi. Tôi không thể mô tả Ánh Sáng đó hay mô tả làm sao Ánh Sáng đó có thể mang lại một “sự hiểu biết.” Nhưng tôi biết rằng có một Ánh Sáng đã ngự trong tôi và biết đến tôi như trong một mối quan hệ cá nhân. Tôi biết điều đó có vẻ là không thể nhưng điều đó đã xảy ra.

Ánh Sáng không chỉ biết đến tôi, Miles, một kẻ thất bại và nóng tính, mà còn yêu thương tôi, thực sự yêu thương tôi. Xin hãy tha thứ cho sự tự phụ của tôi nhưng đó là điều tôi cảm nhận được. Tôi không có cách nào để nói cho bạn biết làm sao tôi biết điều đó nhưng tôi biết. Tôi không biết gọi nó là gì. Tôi cảm thấy lúng túng khi cố gắng nói rằng đó là Chúa hay Chúa Kitô, nhưng tôi cảm thấy điều đó có liên quan đến Chúa và Chúa Kitô Ngôi Lời. Tôi không thể thốt ra được những từ đó. Nó có vẻ quá là không thể và đầy ắp mọi thứ mà tôi đã chối bỏ trong Kitô giáo (Kitô giáo Tin Lành của thời thơ ấu).

Tôi không thể thốt ra được những từ đó dù tôi cảm thấy như thể một phần của Chúa đã vỡ ra trong tôi và đó là Tình Yêu. Tôi cảm nhận được Tình Yêu. Tôi cảm nhận được một Tình Yêu Linh Thiêng. Tôi cảm nhận được một Tình Yêu biết tên tôi khi nó đến ngự trong tôi. Dường như nó luôn ở bên trong tôi nhưng tôi chưa từng biết đến. Nó đến ngự bên trong và bùng nổ cùng một lúc. Tôi biết điều đó rất khó để tưởng tượng và tôi không có bất kỳ từ nào để giải thích. Nếu có cách nào để nói điều này rõ ràng hơn, tôi sẽ làm.

Tôi quỳ xuống và phủ phục trên mặt đất. Tôi không biết mình đã ở trong tư thế đó bao lâu nhưng cuối cùng tôi ngồi dậy trên bậc thềm và lại khóc. Tôi không có cách nào để giải thích cho những gì tôi cảm thấy. Có thể tôi đã sai khi nói như vậy, nhưng tôi cảm thấy mọi câu từ đều rơi rụng khi Ánh Sáng ngự ở trong tôi. Tôi cảm thấy một “sự hiểu biết” dường như được sinh ra cùng với Tình Yêu đó. Tôi biết rằng Chúa yêu tôi nhưng tôi không thể thốt ra được từ “Chúa.” Tôi biết rằng Chúa Kitô đã gọi tôi dù tôi không thể thốt ra được từ “Chúa Kitô.” Tôi đã đạt được một số nhận thức trong Phật giáo, một số khoảnh khắc hiểu biết về Bức Tranh Toàn Cảnh, qua thầy của tôi và việc tu tập của tôi nhưng không có gì là giống như việc này. Bên trong tôi đang rực sáng với Tình Yêu và một sự hiểu biết về Ánh Sáng. Đó không phải là một sự rực sáng thực sự, có thể chạm hay thấy được nhưng tôi cảm giác như mình đang rực sáng ở bên trong. Tôi không thể xác định rõ là Chúa đang khao khát tôi hay là tôi đang khao khát Chúa. Dường như chúng tôi gặp nhau trong sự khao khát ấy. Lần đầu tiên, sự khao khát này dường như là một trải nghiệm của sự hiện diện của Chúa và mối quan hệ giữa tôi và Ngài.

Trong Phật giáo, chúng tôi thường nói về việc tìm thấy sự hiện diện của nhận thức trong một tình huống thường nhật. Trong Đát-đặc-la, tất cả những gì được trải nghiệm đều mang đến khả năng giác ngộ ngay trong thời điểm đó. Cách thức tu tập của chúng tôi thường dựa trên việc tìm thấy sự hiện diện của nhận thức trong những cảm xúc hay tình huống thường nhật mà chúng tôi đang có. Tôi dường như đã tìm thấy sự hiện diện của nhận thức của mình trong sự khao khát Chúa như thể đó là Ánh Sáng và Tình Yêu.

Lần đầu tiên trong đời, có một Tình Yêu Linh Thiêng, một Tình Yêu biết tên tôi. Tôi không biết mình đã ngồi trên bậc thềm bao lâu. Bầu trời dường như đang sáng dần nhưng tôi không thể nói chính xác khi nào tôi đã đi vô nhà. Tôi chắc chắn cuối cùng tôi đã ngủ, nhưng tôi không nhớ chính xác khi nào điều đó xảy ra dù tôi vẫn còn mặc quần áo khi tỉnh dậy trên giường.

Sáng hôm sau, khi tôi kể cho vợ nghe những gì đã xảy ra, tôi nói rằng một Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi đã đến ngự trong tôi. Tôi không biết gọi nó là gì khác. Tôi mô tả lại trải nghiệm nhưng vẫn không thể thốt ra được từ “Chúa” hay tên “Chúa Kitô.”

Tôi gọi đó là Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi.

Dĩ nhiên, vợ tôi, một người California chuẩn mực, hỏi tôi có đang bị phê đá không. Cả hai đều cười. Đã lâu lắm rồi kể từ lần cuối điều đó có thể xảy ra (không được hút bất cứ thứ gì trong tăng đoàn của chúng tôi) nhưng cô ấy bắt đầu lắng nghe và tôi kể chi tiết. Tôi biết rằng lúc đó mọi thứ đã thay đổi. Bằng một cách nào đó, Tình Yêu đã đi vào trong bức tranh và cuộc sống mà tôi biết đã sụp đổ. Thầy của tôi là một người vô thần và Phật giáo mà tôi biết chắc chắn không đưa ra một khái niệm gì về một Thượng đế tạo hóa hay một thần linh là nguồn gốc của Tình Yêu. Chúng tôi nói về lòng cảm thông và trí tuệ, lòng tốt và nhận thức nhưng rất hiếm khi từ “tình yêu” được nhắc đến, và chắc chắn không phải là trong ngữ cảnh của một Tình Yêu Linh Thiêng. Tôi có thể cảm nhận được sự sợ hãi từ vợ mình. Dù chúng tôi có đùa cợt thế nào đi chăng nữa, cô ấy cảm thấy rằng mọi thứ đang trên bờ vực sụp đổ. Cô ấy không biết điều đó sẽ dẫn tôi đi đến đâu. Tôi cũng không biết. Mọi thứ đã trở nên khá ổn định trong cuộc sống của chúng tôi. Đêm đó, mọi thứ đã bị lung lay đến tận gốc rễ, và vợ tôi đã cảm nhận được điều đó.

Khi Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi ngự ở trong tôi, tôi biết những điều mà tôi không thể giải thích. Tôi trải nghiệm được một Tình Yêu cá nhân từ một Nguồn Cội vượt lên trên bất kỳ điều gì mà tôi đã từng trải qua trước đó. Nó thật tuyệt vời, và đồng thời, cũng thật khủng khiếp.

Tại sao tôi không thể dùng từ “Chúa” hay “Chúa Kitô”? Điều gì đã kìm hãm tôi lại? Ý nghĩ rằng điều này có thể là Chúa hoặc Chúa Kitô nghe có vẻ quá điên rồ, nhưng đây là lần đầu tiên nó có thể xảy ra. Có thể đây là Tình Yêu của Chúa. Có thể đây là một trải nghiệm về Chúa Kitô. Tôi đoán, theo một cách nào đó, điều này có vẻ lỗi thời. Tôi chắc chắn không muốn trở thành một Kitô hữu. Tôi đã chỉ trích các Kitô hữu là những kẻ đạo đức giả và ngu ngốc trong nhiều năm liền. Là một Phật tử, tôi có vẻ tử tế hơn trong suy nghĩ đó, nhưng tôi vẫn không có ý định trở thành một Kitô hữu hay mong muốn khám phá con đường này. Tôi chưa bao giờ thực sự thoát khỏi khái niệm về một Thượng đế cho dù thầy Rinpoche nói rằng tôi phải đối mặt với góc nhìn của mình về Chúa trong vấn đề đổ lỗi. Tôi đã đổ lỗi cho Chúa về rất nhiều điều trong cuộc sống của mình. Thầy nói rằng để phát triển tâm linh, tôi cần buông bỏ việc đổ lỗi. Thầy đã đúng.

Một thế giới đang mở ra và một thế giới khác đang dần lụi tàn. Những lời thề tôi đã đưa ra khi trở thành một hành giả Ngakpa được coi là lời thề trọn đời. Cam kết mà tôi đã thực hiện với thầy tôi và tông phái được coi là cam kết “trọn đời.” Bây giờ tôi đang đối diện với một thực tế rằng có một Đấng Tạo Hóa của Tình Yêu, một Nguồn Cội của Tình Yêu và một Thần Khí của Tình Yêu mà tôi không thể giải thích được trong Phật giáo của mình, và từ kinh nghiệm của tôi, đó là một thực tế không thể chối cãi. Tôi đã phải vật lộn với việc phải làm gì. Tôi không có một bối cảnh nào để giải thích trải nghiệm này. Chủ nghĩa vô thần của thầy tôi dường như loại trừ khả năng ông ấy hiểu được thực tế mà tôi vừa trải qua. Tôi đã có một trải nghiệm dường như đảo lộn lại Phật giáo của mình. Khuôn khổ của việc tu luyện và lời dạy của thầy tôi dường như bị giới hạn, và tôi phải thừa nhận là chưa hoàn chỉnh. Tôi biết thầy đã sai về Chúa. Tôi phải làm gì đây?

Panteleimon David Walker là người châm cứu của tôi và là thành viên của Giáo Hội Chính Thống giáo ở Mỹ. Chúng tôi đã thảo luận về Phật giáo và Kitô giáo trong nhiều tháng khi ông đang điều trị cho tôi. Tuần tới tôi có một cuộc hẹn với ông. Sau khi chúng tôi chào nhau, ông nói, “Tôi có một cuốn sách cho bạn, tôi nghĩ bạn sẽ thích.” Đó là cuốn “Christ The Eternal Tao” (Chúa Kitô Đạo Trường Tồn) của Tăng sĩ Linh muc Damascene. Đêm đó tôi đã đọc ngấu nghiến cuốn sách. Tôi không biết mình đã ngủ lúc nào, nhưng tôi đã đọc trong nhiều ngày, và nó đã cho tôi một nền tảng để sắp đặt lại những trải nghiệm mà tôi đã trải qua liên quan đến Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi.

Tôi biết có một Nguồn Cội của Tình Yêu và một Năng Lượng của Tình Yêu, nhưng tôi vẫn ngần ngại gọi đó là Chúa Thánh Thần. Tôi đã bỏ lại Kitô giáo thời thơ ấu của mình từ rất lâu. Những cụm từ đó vẫn còn mắc kẹt trong cổ họng tôi.

David gợi ý rằng tôi thử đến thăm một nhà thờ Chính Thống giáo và đề cập đến một nhà thờ thuộc OCA ở San Francisco. Nhưng điều đó dường như quá kỳ quặc, quá nhiều cam kết đối với một tôn giáo mà tôi đã rời bỏ. Tôi muốn một điều gì đó không thuộc về một tổ chức nào. Điều cuối cùng tôi muốn làm là dính líu đến một giáo hội. Sau tất cả, tôi là một Phật tử. Tại sao tôi lại bị thu hút vào một tôn giáo khác, đặc biệt là Kitô giáo? Tôi đã cam kết với sư thầy và tông phái của mình. Tôi không nên khám phá vào thời điểm muộn màng này bất kỳ hình thức thờ phượng nào khác. Nhưng Phật giáo của tôi không đề cập hoặc thừa nhận những trải nghiệm mà tôi vừa trải qua liên quan đến Thần Thánh. Tôi biết chắc chắn rằng những trải nghiệm tôi về Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi là có thật và chân thật. Thầy tôi nói Chúa không tồn tại, và tôi biết rằng tôi đã trải nghiệm Tình Yêu Linh Thiêng ở một mức độ cá nhân.

Tôi chống đối lại ý tưởng về một giáo hội, nhưng Chính Thống giáo có một truyền thống chiêm niệm cổ xưa và một cách thức để làm sâu sắc và mở rộng cảm quan cá nhân về sự biến đổi của bản thân trong mối quan hệ với Thần Thánh. Cuốn sách của Cha Damascene ít nhất đã mở ra cho tôi khả năng khám phá (mà không cần) một cam kết với một truyền thống trong Kitô giáo, điều mà vượt xa bất kỳ truyền thống Kitô giáo nào mà tôi từng nghe.

Tôi gọi đến Nhà thờ chính toà Chúa Ba Ngôi (một nhà thờ OCA ở San Francisco). Một người đàn ông nhấc máy, và tôi hỏi liệu các buổi lễ có được cử hành bằng tiếng Anh không. Ông ấy nói bằng giọng Nga dày đặc và “gãy”. Tôi bật cười. Tôi thích sự hài hước của ông ấy. Tôi hỏi về thời gian cử hành Phụng Vụ và cảm ơn.

Vào Chủ nhật ngày 7 tháng 2, tôi thức dậy và ăn mặc chỉnh tề và nói với vợ rằng tôi sẽ đi tìm một nhà thờ. Cô ấy cực kỳ sốc. “Cái gì?” cô ấy hét lên.

“Anh biết, đừng hỏi. Anh sẽ quay lại ngay.”

Trời mưa như trút nước, và đường phố gần như trống vắng. Tôi lái xe vào San Francisco và có một khái niệm mơ hồ về một nhà thờ Nga với những mái vòm xanh ở trung tâm. Danh sách Nhà thờ chính toà Chúa Ba Ngôi nằm trên đường Green, và tôi nghĩ rằng mình đang đi về hướng đó. Cuối cùng tôi cũng thấy mái vòm và cây thánh giá. Bởi vì không bao giờ có chỗ đậu xe quanh khu đó nên khi tôi đến gần, tôi tự nhủ, “Nếu có chỗ đậu, tôi sẽ dừng lại, nếu không tôi sẽ đi ăn Burger King.” Ngay khi tôi thốt ra lời đó, một người lái xe ra khỏi chỗ đậu đối diện nhà thờ. “Được rồi, được rồi, tôi sẽ đi.” Tôi bước vào nhà thờ vào ngày 7 tháng 2 năm 1999. Lúc ấy tôi không hề biết, nhưng đó là Chúa nhật của Người Con Hoang.

Biểu tượng lễ của Người Con Hoang
Biểu tượng lễ của Người Con Hoang, được cử hành vào ngày Chủ Nhật thứ hai trong thời kỳ ba tuần trước khi bắt đầu Mùa Chay Lớn.

Trong Đát-đặc-la, tất cả các giác quan đều được sử dụng trong việc tu tập của mình. Các giác quan không bị phủ nhận mà được sử dụng để mở ra và thả lỏng vào trạng thái tự nhiên của sự giác ngộ của chính mình. Khi tôi bước vào nhà thờ, tôi cảm nhận được một không gian rộng lớn với ánh sáng và hương thơm. Tôi được đón tiếp ở cửa và chào đón. Khi được hỏi liệu tôi có phải là người Chính Thống giáo không, tôi đáp một cách nhanh chóng (và có lẽ thô lỗ) rằng tôi không phải là Kitô hữu mà là một Phật tử. Tôi đứng ở phía sau và quan sát. Khi lễ Phụng Vụ bắt đầu, âm nhạc và lời ca và các bài đọc dường như lấp đầy cả căn phòng tựa như ánh sáng và hương thơm. Toàn bộ buổi lễ dường như trở thành một nghi thức cầu kỳ của các giác quan. Nó thật tuyệt vời và nó làm tôi sợ chết khiếp. Có một điều gì đó có vẻ đúng. Chỉ cần nó không phải là quá Kitô giáo. Sau buổi lễ, tôi được mời ăn trưa cùng mọi người. Tôi đã làm như vậy. Tôi đã có một cuộc trò chuyện hay và thậm chí Phật giáo của tôi cũng được quan tâm đến. Tôi rời đi với cảm giác như mình đã tìm thấy một hình thức Kitô giáo mới. Đó chắc chắn không phải là Kitô giáo mà tôi từng biết. Tôi trở lại vào Chủ nhật tuần sau.

burn_incense

Tôi bắt đầu lắng nghe những câu từ trong lễ Phụng Vụ. Chẳng bao lâu sau tôi bắt đầu tham dự một số lễ tối và ngạc nhiên với những gì đang được đọc. Tôi chưa bao giờ nghe các chủ đề thần học được hát và ca tụng cùng với các bài đọc. Theo thời gian, tôi nhận ra rằng có một Kitô giáo rộng lớn và sâu sắc hơn những gì tôi biết, và đó được tìm thấy trong Chính Thống giáo. Và tôi bắt đầu nghe đến Ánh Sáng, một Ánh Sáng dường như có nhiều điểm chung với trải nghiệm của tôi về Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi. Thậm chí Ánh Sáng đó được thừa nhận trong thần học và được sử dụng để một mô tả về cách Thiên Chúa, Ngôi Lời, và Chúa Thánh Thần kêu gọi và bày tỏ lòng yêu thương. Tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái hơn với từ “Chúa” và “Chúa Kitô.” Tất nhiên, vợ và bạn bè của tôi cảm thấy rất không thoải mái khi nghe tôi bắt đầu sử dụng những từ ngữ đáng sợ đó. Hầu hết mọi người đều im lặng khi nghe tôi đang tham dự một nhà thờ Kitô giáo, chứ đừng nói đến một nhà thờ Chính Thống giáo. Tôi vẫn tham gia nhóm Phật giáo của mình và biết rằng khi thầy tôi đến vào tháng Ba, chúng tôi phải nói chuyện. Tôi cảm thấy như mình đang lén lút tham dự một nhà thờ Kitô giáo và tôi không muốn làm điều đó. Nhưng tôi phải cố gắng sắp xếp lại những trải nghiệm của mình và cảm thấy rằng giáo hội đã cung cấp một số khả năng cho những câu trả lời mà cả thầy tôi và tông phái Phật giáo của tôi dường như không thể giải thích.

Cuốn sách của Cha Damascene đã là chất xúc tác cho sự khám phá đó và sự xuất hiện của giáo hội trong cuộc đời tôi dường như là một tiến trình tự nhiên, xuất phát từ việc đọc cuốn sách đó lần đầu tiên. Càng tham dự các buổi lễ, tôi càng cảm thấy đây là một nơi mà tôi có thể thoải mái như một Kitô hữu. Mặc dù bạn phải nhận ra rằng tôi chưa bao giờ sử dụng từ đó. Tôi vẫn kháng cự. Tôi vẫn lảng tránh. Tôi lẩn trốn trên rìa của Kitô giáo, trong bóng tối của những ngọn nến cũng như trong ánh sáng. Tôi kháng cự và kháng cự việc quỳ gối và làm dấu thánh giá. Điều đó đơn giản là quá xa vời. Tôi vẫn là một Phật tử. Tôi chỉ đang thăm dò Kitô giáo. Bằng cách đó, tôi vẫn có thể tham dự và khám phá nhưng không cần phải cam kết. Một đêm Matushka Barbara đến và hỏi tôi có muốn học cách làm dấu thánh giá không. Khi tôi nói có, bản thân tôi cũng đã rất ngạc nhiên khi chính tôi đã nói như vậy.

Tôi biết điều này có vẻ kỳ lạ, nhưng việc tự mình làm dấu thánh giá đã thay đổi cách tôi nhìn nhận bản thân và bắt đầu thờ phượng. Đó là dấu hiệu đầu tiên mà tôi công khai thừa nhận rằng tôi tin tưởng vào Kitô giáo và đã bắt đầu nhìn thấy chính mình trong khuôn khổ Kitô giáo. Thật khó có thể giải thích. Đó là một hành động rất đơn giản, nhưng theo nhiều cách, nó đã trở thành một hành động đầu tiên của tôi để chấp nhận Kitô giáo. Nó trở thành dấu hiệu đầu tiên cho thấy tôi đang “mặc lấy Chúa Kitô.” Tôi đã được nuôi dưỡng để ghét người Công giáo. Cha tôi được nuôi dưỡng theo đạo Luther và ông ghét Giáo Hội Công giáo. Tôi vẫn còn nét đó trong mình. Nhưng tôi đã tự mình làm dấu thánh giá đêm hôm đó và những đêm khác khi tôi bắt đầu tham dự phụng vụ nhiều hơn và tìm kiếm trong Chính Thống giáo các câu trả lời và một hình thức mộ đạo mới.

Trong Phật giáo Kim cương thừa, bạn coi sư thầy của mình là một bậc giác ngộ, đại diện cho con đường của bạn dẫn tới mục tiêu đó. Người ta cúi lạy thầy mình như một dấu hiệu của sự tôn trọng hoàn toàn và như một dấu hiệu của việc phụ thuộc vào thầy để tiến bộ và giác ngộ tâm linh. Tôi sẽ cúi lạy thầy mình mà không chút do dự (ngoại trừ vì bị mập và đau đầu gối). Trong nhà thờ Chính Thống giáo, người ta cúi lạy trước Chúa, trước Chúa Kitô, trước Chúa Thánh Thần. Người ta cúi lạy trước hình ảnh các thánh như một hành động sùng kính và tôn trọng. Tôi vẫn không thể cúi lạy. Có điều gì đó trong sự bướng bỉnh của tôi mà ngay cả tôi cũng không thể hiểu được. Tôi biết thật kỳ lạ khi có thể cúi lạy trước một người thầy nhưng lại không làm điều đó trước Chúa. Bằng một cách nào đó, tôi dường như dễ tin tưởng một người hơn là Thần linh. Tôi sẽ làm dấu thánh giá nhưng tôi sẽ không cúi lạy. Ở đây tôi đã bị kéo ra khỏi giường, được gọi mời theo cách mà ngay cả tôi cũng nghe thấy, và có những trải nghiệm tuyệt vời về Ánh sáng và Tình yêu ở mức độ cá nhân, nhưng lòng kiêu hãnh và sự bướng bỉnh của tôi vẫn chống lại việc thể hiện sự sùng kính đầy đủ và trọn vẹn hơn. Tôi sẽ không cúi đầu. Tôi sẽ không cúi lạy trước Chúa. Có điều gì đó vẫn kiên quyết chống lại lời kêu gọi của Chúa Kitô và Giáo Hội Chính Thống giáo. Dù tôi biết mình không thể quay đầu lại.

Biểu tượng lễ của Người Con Hoang

Mùa Chay Lớn là thời gian để nhìn nhận lại tâm hồn một cách sâu sắc. Toàn bộ Giáo Hội cùng nhau bắt đầu một hành trình đến Jerusalem với Chúa Kitô. Cả bốn mươi ngày trở thành một vở kịch vũ trụ treo lơ lửng trong một dòng thời gian mà tôi hiếm khi được trải nghiệm trong Phật giáo. Thời gian dường như trôi qua gần như tương ứng với việc các buổi lễ kéo dài hơn. Bằng một cách nào đó, thời gian đang được sử dụng để phá hủy thời gian.

Tôi đã tham dự các nghi lễ kéo dài trong Phật giáo. Tôi đã từng cảm thấy rằng chúng diễn ra nhanh hơn tôi tưởng. Nhưng tôi chưa bao giờ trải nghiệm thời gian theo một cách “vĩnh cửu.” Tôi biết là điều đó khó diễn tả như thế nào, nhưng việc kéo dài các buổi lễ và Phụng Vụ thực sự dường như sụp đổ lại thành một sự vô tận mà tôi chưa bao giờ cảm thấy sâu sắc đến như vậy. Mỗi một từ của bài thánh ca hoặc buổi lễ dường như được nhắm vào tôi. Mỗi một câu về việc bị lạc lối và nhầm lẫn và bị áp đặt bởi hoàn cảnh cuộc sống đều được đọc cho tôi. Tôi được Tình yêu tìm thấy nhưng vẫn bị lạc. Tôi rời nhà thờ mỗi tối với cảm giác rằng mọi điều đã được hát hoặc đọc đều là những gì tôi muốn nói, nếu tôi có thể nói bất cứ điều gì đẹp đẽ và chân thật được như vậy. Tôi để dàn hợp xướng hát những lời ca ngợi của mình và người đọc kể về tình yêu của tôi. Khi Mùa Chay càng trở nên sâu sắc và rộng mở hơn, tôi càng cảm thấy buồn bã hơn. Tôi bắt đầu trải nghiệm thời gian trong nhà thờ không như bất kỳ thời gian nào khác.

Mặc dù dành nhiều giờ để thiền định và nhiều tuần trong việc tu luyện đơn độc, tôi chưa bao giờ thấy thời gian trở nên tĩnh lặng như vậy. Các buổi lễ của Mùa Chay Lớn bắt đầu thay đổi tôi. Một đêm trong buổi lễ Great Compline (tôi nghĩ vậy), đầu gối tôi quỵ xuống. Tôi cảm thấy mình đang quỳ trước Chúa, và tôi cảm thấy rất tệ khi kìm nén. Tôi cảm thấy mình như một kẻ ngốc ngếch và ngạo mạn. Mọi thứ trong tôi đã nói với tôi về Trái Tim Vĩ Đại của Chúa Kitô, và tôi đã từ chối cái ôm của Ngài. Khi đầu tôi chạm sàn, Chúa đã phá vỡ trái tim tôi. Tôi đã khóc nức nở. Khi Cha Victor đến xông hương trước biểu tượng gần tôi, tôi biết cha đã nghe thấy tôi khóc. Tôi không thể ngừng lại. Tôi rất xấu hổ. Tôi cảm thấy mình thật trần trụi. Có những người mà tôi đã tiếp xúc thường xuyên trong nhiều tuần đứng gần tôi trong nhà thờ. Họ đã thấy tôi kiêu ngạo với Phật giáo của mình. Họ đã thấy tôi đứng cách xa. Họ đã thấy tôi làm dấu thánh giá và vẫn kìm nén. Và giờ đây họ thấy đầu gối tôi quỳ xuống và đầu tôi chạm xuống sàn gỗ và tôi đang khóc khi Chúa phá vỡ trái tim tôi.

Ngài đã phá vỡ trái tim tôi ngay tại đó. Tôi có thể chỉ ra được chỗ nào. Ngài đã gọi tôi trong đêm. Ngài đã bước vào trong tôi như Ánh Sáng. Bây giờ Ngài đã phá vỡ trái tim tôi. Tôi không thể giải thích rõ hơn. Chúa đã phá vỡ sự kiêu ngạo và sự cô độc của tôi, và Ngài khiến cho sự cô độc không còn tồn tại nữa. Ngài đã giữ tôi bằng tình yêu của Ngài, giữa dòng thời gian, và tôi không xứng đáng một chút nào với điều đó.

Bây giờ Tình Yêu làm cho tôi tan vỡ. Tôi là một kẻ ăn mày. Tôi là một kẻ ăn mày.

Các buổi lễ tối càng trở nên thường xuyên và mãnh liệt hơn. Vợ tôi giận dữ vì tôi đã đi vắng quá nhiều, và chúng tôi thường xuyên bất đồng. Tôi không nhận được nhiều sự ủng hộ cá nhân trong việc tiếp tục con đường Kitô giáo này. Bạn bè tôi nghĩ tôi bị điên. Các thành viên trong tăng đoàn Phật giáo của tôi thậm chí còn không biết về việc tôi đang tham dự nhà thờ song song. Tôi càng đi sâu vào nhà thờ, tôi càng cảm thấy một sức mạnh như đang kéo tôi trở lại. Những mâu thuẫn và sự giả tạo trong việc tham gia của tôi với tư cách là một Phật tử trong một nhà thờ Kitô giáo là rõ ràng ngay cả với tôi.

Mãi đến đêm đó, tôi mới nhận ra rằng mình không thể quay đầu lại. Tôi đã yêu và phải tiến gần nhất có thể đến Nguồn Cội của Tình Yêu đó. Tôi nghĩ mình đã phát điên một thời gian. Nỗi khao khát không dừng lại. Nó dường như càng sâu sắc hơn khi Mùa Chay Lớn tiếp diễn. Tôi khóc một cách dễ dàng. Tôi đi trên phố và thấy một cặp vợ chồng già nắm tay nhau, và tôi liền tràn đầy nước mắt. Tôi bị lạc lối trong các buổi lễ và phụng vụ. Tôi nghe thấy tiếng chuông vang lên khi bắt đầu đọc Kinh Tin Kính, và tôi phải quay đi với nước mắt. Cái mũi sụt sịt của tôi cũng đã đủ tệ rồi.

Tôi đã cố gắng nói với Diane rằng tôi có thể mang đến hàng nghìn phiên bản của những cuốn sách tuyệt vời để giải thích từng câu của Kinh Tin Kính và chúng sẽ sụp đổ hết lại thành những dòng nước mắt. Tôi bắt đầu đứng trong góc vì quá xấu hổ. Tôi nhớ việc đứng phía trước để nghe dàn hợp xướng rõ hơn, nhưng tôi giờ đang đứng ở một góc và cảm thấy như một kẻ ăn mày đang được sưởi ấm bởi một ngọn lửa.

Tôi đã viết thư cho cả Cha Damascene ở Alaska, và cho cha xứ của Nhà thờ Chính Thống giáo Chúa Ba Ngôi, Cha Victor Sokolov, để kể cho họ về những gì đang xảy ra với tôi và mong muốn ngày càng lớn của tôi trong việc xem xét khả năng khám phá Chính Thống giáo một cách nghiêm túc hơn. Cha Damascene đã trả lời bằng một bức thư tuyệt vời và khích lệ. Tôi rất cảm động trước sự tử tế của ông. Tôi đã xin gặp Cha Victor.

Tôi biết rằng người thầy của tôi sắp đến và tôi đã gọi điện để sắp xếp thời gian gặp nhau. Tôi đã phá vỡ lời thề với thầy không phải vì tôi bắt đầu chấp nhận Kitô giáo mà là vì tôi không đủ tin tưởng thầy để hiểu về trải nghiệm Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi. Tôi cảm thấy rằng, vì thầy đã chọn lập trường vô thần, nên thầy sẽ không thể hiểu được một cách tiên nghiệm bản chất của trải nghiệm về Ánh Sáng. Đó thực sự là lúc tôi phá vỡ lời thề. Tôi đã vi phạm lòng tin thầy trò. Nhưng chính từ sự vi phạm này, tôi đã có thể mở lòng mình ra để đón nhận một trải nghiệm trọn vẹn hơn về Chúa Thánh Thần, để mở ra một phần trong tôi mà tôi đã cam kết không mở vì lời thề đó. Những lời thề Phật giáo đó từng là trung tâm của danh tính và cuộc sống của tôi. Tôi đã cố gắng thực hiện nghiêm túc các lời thề. Tôi yêu quý Rinpoche. Tôi vẫn yêu quý thầy. Tôi cảm thấy có trách nhiệm vô cùng lớn lao để tiếp tục một dòng suy nghĩ và phương pháp giúp mọi người nhìn thấy những khuôn mẫu kìm hãm họ thả lỏng vào bản chất tốt đẹp tự nhiên của sự tồn tại và không tồn tại. Tôi đã cam kết điều đó và tôi vẫn hy vọng có một phần của lời cam kết đó hướng tới sự tốt đẹp và giải thoát trong tôi.

Tôi gặp Rinpoche và chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Tôi đề nghị chuyển từ phòng khách vào phòng riêng của thầy để có chút riêng tư. Tôi biết thầy cảm nhận được sự bất an. Tôi kể cho thầy nghe những gì đã xảy ra, cố gắng giải thích đầy đủ về trải nghiệm Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi. Tôi nghĩ thầy thấy rằng trải nghiệm đó là thật. Có lẽ điều đó được phản ánh trong những giọt nước mắt. Một lần nữa, tôi chìm đắm trong những giọt nước mắt vui sướng và kinh hoàng này. Tôi sợ rằng mình đã cắt đứt một sợi dây nuôi dưỡng tôi về mặt tâm linh. Tôi đã yêu cầu được đưa ra khỏi dòng năng lượng di chuyển qua vũ trụ như một con sông. Tôi đã bị đưa ra khỏi dòng chảy. Tôi là một cựu Phật tử. Tất cả các vị thần của tôi đều đã bị lấy đi; hình ảnh của tôi về ý thức, cách thế giới đang được phản chiếu. Các Bổn Tôn (Yidams) và Bảo hộ mà tôi đã chia sẻ thế giới cùng họ không còn ở đó cho tôi nữa. Đó là một sự mất mát kỳ lạ. Nhưng đó là một sự mất mát mạnh mẽ.

Đột nhiên, tôi yêu cầu được giải thoát khỏi lời thề của mình. Nó như bùng nổ ra khỏi miệng tôi. Tôi cảm thấy khủng khiếp. Tôi nghe thấy chính lời nói của mình yêu cầu được giải thoát khỏi lời thề, và tôi cảm thấy như mình đã phản bội một người mà tôi yêu quý và người đó yêu quý tôi rất nhiều. Thầy là Cha tâm linh của tôi trong gần tám năm. Tôi biết tôi đang làm thầy đau lòng. Tôi làm thầy đau lòng vì thầy yêu quý tôi và tôi biết điều đó, và tôi đã cam kết góp phần vào tông phái này cho đến khi tất cả chúng sinh được giải thoát. Đó không chỉ là một lời thề cá nhân với thầy. Tôi biết điều đó. Những phương pháp nhìn nhận và xác định trong phạm vi rộng lớn của chúng sinh và các thế giới và năng lượng là những điểm tham chiếu trung tâm trong cuộc đời tôi. Có những dòng giải thoát trong Phật giáo có những vũ trụ luận và cách nhìn thế giới cụ thể. Tất cả đều lấy sự cảm thông và nhận thức làm cơ sở cho tôn giáo của họ. Tôi đã yêu cầu không tham gia vào nhiều hơn một tăng đoàn.

Mọi thứ đều nhuốm màu buồn bã. Rinpoche nói rằng thầy sẽ giải thoát tôi khỏi lời thề. Thầy nói tôi có thể khám phá con đường Kitô giáo trong một năm, và trong năm đó nếu tôi muốn quay lại lời thề của mình, thầy sẽ chấp nhận. Thầy nhận thấy tôi đã trải qua một số biến đổi nhưng tôi không biết thầy đã thấy gì. Như thường lệ, ông luôn hướng tới lòng tốt và tạo ra khả năng rộng mở trong một khoảnh khắc khủng khiếp. Ông luôn có thể đảo ngược dòng chảy của sự việc. Đó là lý do tại sao ông là một người thầy tuyệt vời đối với tôi. Thầy đã đảo ngược những khuôn mẫu phản ứng của tôi với thế giới từ bên trong ra bên ngoài. Nhưng thông qua trải nghiệm Ánh Sáng của Chúa tất cả đều trở nên vô nghĩa. Tôi nói với ông rằng tôi sẽ không kìm chế mình và tôi sẽ đi sâu vào đó hết mức có thể.

Thầy nói trách nhiệm duy nhất của tôi với thầy là trở thành một Kitô hữu tốt.

Tôi nghĩ chúng tôi đã khóc cùng nhau. Đó là cách tôi nhớ. Nhưng có thể chỉ là tôi thôi. Tôi rời đi như thể bị sốc. Tôi cảm thấy như thể ai đó đã chết. Tôi có một cảm giác khủng khiếp, như thể một tai nạn đã xảy ra, và mọi thứ đã thay đổi trong một giây. Rồi có một khoảnh khắc xé lòng của sự chắc chắn và kinh hoàng, khi một cái gì đó được sinh ra và một cái gì đó tan biến vào phút cuối. Rinpoche luôn cố gắng chỉ cho chúng tôi cách biến những khoảnh khắc này thành những điểm của ý thức.

Tôi lái xe qua cầu Bay Bridge về nhà, và đột nhiên tôi nhận ra rằng phía bên kia của nỗi buồn là một sự chắc chắn rằng quyết định của tôi là đúng. Đó là một ký ức kỳ lạ, ngọt ngào đắng cay về Ánh Sáng, Đấng Không Phải Ánh Sáng, Đấng Biết Tên Tôi. Ngay cả trong tất cả nỗi đau khổ, Ánh Sáng đó vẫn ở đó. Tôi bắt đầu nhớ lại mọi thứ và hình dung ra mọi thứ, từ lời gọi trong đêm và việc tìm kiếm kẻ trộm. Tôi đã quên mất Chúa trong suốt quãng thời gian đó. Đó là vấn đề của tôi. Tôi đã quên Chúa suốt hai mươi năm.

Tôi thực sự đã được đánh thức, được gọi đến cổng và được mời vào. Tôi cố gắng nhớ lại lần đầu tiên tôi làm dấu thánh giá và nơi Chúa đã phá vỡ trái tim tôi.

Đôi khi, Chúa phải dùng một khúc gỗ đập vào đầu những kẻ ngốc như chúng ta mới khiến chúng ta hiểu ra. Dạ dày tôi rối bời, nhưng tôi vẫn cảm thấy ổn. Có một điểm bình yên nhỏ bé, như một con mắt giữa cơn bão. Sự nghi ngờ và nỗi buồn tan biến trong một bầu không khí bao quanh hạt ngọc nhỏ bé của sự chắc chắn về tình yêu của Chúa. Cả một ngày, tôi cứ nhắc đi nhắc lại điều đó.

Một lần trong chương trình truyền hình X Files, Scully kết thúc chương trình bằng câu nói đại loại như, “giả sử Ngài đang gọi liên tục và không một ai lắng nghe.” Nhiều năm trước tôi sẽ nói đó là vấn đề về tần số. Bây giờ tôi nghĩ đó là vấn đề của Ân sủng. Cuối cùng, có một điểm đến trong sự hội tụ kỳ lạ của thời gian, hoàn cảnh và điều huyền nhiệm này. Dường như trong vở kịch và sự sắp đặt vĩ đại của sự tồn tại có một khoảng trống, ở chính giữa đó là Nguồn Cội Tình Yêu trở thành Ngôi Lời và Thần Khí thổi qua mọi thứ và gọi tất cả trở lại với Tình Yêu Linh Thiêng. Đây là cách diễn tả gần nhất những gì tôi cảm nhận.

Dường như có khả năng là tôi hoàn toàn đúng. Tôi đã gửi email cho Cha Victor rằng tôi đã được giải thoát khỏi lời thề Phật giáo của mình. Tôi yêu cầu gặp để biết cách tiếp tục từ đây. Tôi tiếp tục tham dự các buổi lễ trong Mùa Chay. Đến khi lễ Phục sinh đến, tôi đã trở nên mệt mỏi. Thật vậy, tôi đã kiệt sức. Tôi đã cạn kiệt và trống rỗng ngoại trừ Ánh Sáng nhỏ bé này đứng ở đâu đó phía sau. Mọi thứ đã bị đảo lộn. Ít nhất tôi nghĩ đó là trình tự thời gian. Tuy nhiên, toàn bộ dòng chảy và sự hội tụ của hoàn cảnh dường như chảy nhanh hơn một chút so với khả năng tôi có thể bắt kịp. Tất cả đã bị lật ngược chỉ trong vài tháng. “Bị phá vỡ trong Ánh Sáng Chói Lóa,” tôi nghĩ bài hát nói vậy.

Tôi đã gặp Cha Victor và chúng tôi đã nói chuyện. Ông gợi ý một vài cuốn sách và khuyến khích tôi tiếp tục tham dự các buổi lễ. Ông nhắc nhở tôi rằng có một nhóm tụ tập để học hỏi vài tuần một lần sau buổi lễ tối. Buổi gặp gỡ rất thân thiện. Cha không biết cha nói ra điều đó khi nào, nhưng có lẽ đó là một trong những lời khuyên quan trọng nhất đối với một Phật tử đang tìm kiếm Chúa Kitô. Ông nói nhanh và một cách bất chợt. Ông dừng lại, quay đầu và nói: “Ngay cả khi con không có gì, con cũng có thể dâng không gì cả.” Đó là khoảnh khắc khi Chúa làm cho thế giới dường như trở nên phong phú, và Cha Victor đã giúp tôi nhận ra điều đó. Tôi nhận ra rằng tôi có thể dâng cho Chúa mọi thứ. Tôi có thể dâng cho Ngài nỗi buồn và sự trầm cảm, sự giận dữ và nghi ngờ của mình. Thực tế, vào một ngày tốt lành, tôi có thể dâng cho Ngài một chút niềm vui và một chút hạnh phúc. Đó là một điều rất quan trọng mà tôi cần nghe. Cho dù đó là lời trích dẫn từ ai khác hay không, tôi không quan tâm. Vào lúc đó, những lời đó là của Cha Victor và chúng đã ở bên tôi kể từ đó. Từ đó, không có một khoảnh khắc nào mà tôi không có gì để dâng lên Chúa.

Khi tôi càng gần gũi với giáo hội thì tình hình ở nhà càng căng thẳng hơn. Diane nhớ tôi và không hề che giấu điều đó. Dĩ nhiên, sau hai mươi ba năm (vào thời điểm đó), cô ấy biết rằng sự ẩn ý không hiệu quả với tôi. Tôi quá ngu ngốc. Những rạn nứt cá nhân khó khăn nhất là với những người bạn thân trong nhóm Phật tử của tôi. Tôi đã hỏi sự cho phép của thầy để kể lại toàn bộ câu chuyện cho các anh chị em kim cương chử của mình (những người thân cận nhất trong nhóm) để họ biết chính xác những gì đã xảy ra. Tôi sợ rằng chúng tôi dường như không chia sẻ chung một nền tảng trải nghiệm hay ngôn ngữ. Dù tôi nói gì thì họ cũng sẽ thấy rằng tôi đã phá vỡ lời thề của mình. Điều này làm họ rất đau lòng và khó chịu. Như tôi đã nói, có nhiều hệ trọng hơn là chỉ một nhóm nhỏ người. Chúng tôi đang nói về sự tiếp nối của một Tông phái và những lời thề đó là một phần của sự cam kết đó. Sự giận dữ của họ thực ra là dấu hiệu của sự tận tâm với Rinpoche. Họ cảm thấy bị phản bội, đau lòng và giận dữ. Tôi đã phá vỡ một mối liên kết tâm linh giữa chúng tôi. Họ đúng. Nhưng tôi vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc hiểu điều mà đối với tôi dường như là sự thiếu tình yêu thương. Đã có một sự im lặng kéo dài.

Vào ngày 23 tháng 5 năm 1999, tôi được nhận phép Rửa Tội vào Giáo Hội Chính Thống giáo tại Hoa Kỳ. Bản sao bức thư sau đây tôi gửi đến cha xứ của mình có thể truyền tải một phần ý nghĩa của Nhiệm tích này đối với tôi.

Cha Victor thân mến — Tối nay xin cho phép con nói về một Huyền nhiềm... Hôm nay là một ngày kỳ diệu và bằng cách nào đó đã hoàn tất bốn tháng cố gắng chấp nhận sự HUYỀN NHIỆM về sự Hiện hữu của Chúa và Khát khao sâu thẳm của Ngài đối với mỗi người chúng ta. Con biết đây chỉ là khởi đầu. Con biết rằng con còn rất mới và non nớt trong điều này, và có nguy cơ rằng sức mạnh của niềm vui này sẽ khiến con nghĩ rằng con biết những điều mà con lại không biết. Nhưng hôm nay thật tuyệt vời — đầy sự kỳ diệu — đầy sự kinh ngạc.

Sự biết ơn vô cùng mà con cảm thấy ngày hôm qua thật chưa trọn vẹn, mờ nhạt, ngu ngốc. Con hoàn toàn không biết ơn — trống rỗng trong lòng biết ơn. Không phải bây giờ và cũng sẽ không bao giờ con có thể lấp đầy bản thân mình với một lòng biết ơn với Chúa theo một cách hữu ích cho Ngài. Con là một ví dụ yếu kém của lòng mộ đạo, nhưng đối với con, ngày hôm nay là một thước đo tràn đầy — tràn cả ra ngoài — làm hỏng cả tấm thảm bằng lòng biết ơn — lấp đầy tầng hầm với lòng biết ơn — Làm sao con có thể đền đáp lại cho Chúa? Liệu con có thể nghĩ ra được điều gì để dâng lên cho Chúa? Con không thể tưởng tượng được việc mình có thể diễn tả được ngày xuân này trong con — những bông hoa trong mạch máu của con — khu vườn này có sâu bọ và phân chim trên những bông hồng. Nhưng nếu con có thể, đó sẽ là hôm nay. Con sẽ đến với Chúa và dâng hiến ngày hôm nay như những gì con có thể làm. Tôi sẽ trút bỏ ngày hôm nay từ trong túi của mình và nói, “Xin Chúa, đây là điều tốt nhất con có. Xin hãy nhận lấy điều này từ con — Ngày hôm nay.”

Con như một bài hát nhảy vào biển lạnh — nước mắt mặn và Ân sủng lăn dài trên má con — Vợ con đứng đó, chỉ cách một nhịp tim, và đang nhìn vào con. Con nghe tiếng hát của dàn hợp xướng. Con bắt gặp ánh mắt của cô ấy. Con nhìn cha tiến lại gần con. Tất cả diễn ra như một thước phim quay chậm — một cảnh quay ngoài thời gian. Có một hơi thở. Có hơi thở của cha — có hơi thở của Chúa — có hơi thở của con — giáo hội thở với ánh sáng này. Con biết nó nghe như là một phép mầu. Vâng! Đó là phép mầu từ Chúa — món quà của Chúa dành cho con ngày hôm nay và của con dành cho Ngài. Xin hãy cắt tóc cho con, lấy những điều cha nghĩ Ngài sẽ thích — con không quan tâm Cha Schmemann nói gì về phép mầu. Đó không phải là phép mầu của cha, dù cha là một phần của nó. Đó không phải là phép mầu của con, dù con là một phần của nó. Nhưng ngày tuyệt vời này là một phép mầu bình thường của Chúa. Mỗi chiếc lá — mỗi ngày — mỗi mười ngàn con kiến bò trong ngày này đều lấp lánh những phép mầu. Bởi vì chúng ta bị mù và đang quay lưng đi nên không thể thấy mọi thứ theo cách kỳ diệu của Chúa. Nhưng khi bắt đầu nhìn thấy — dường như Ân sủng ở khắp mọi nơi. Phép mầu bình thường của Chúa phá vỡ sự mù lòa và nông cạn và đôi mắt cận thị của con.

Con nhìn cây thánh giá của cha trước mặt — ánh vàng lấp lánh dưới ánh nắng dịu nhẹ — chất liệu trắng của áo lễ — những lời gọi con ngân vang lên như tiếng chuông. Con chỉ đứng đó. Con chỉ là một người lặng lẽ đứng tại nơi thiêng liêng này. Có một sự trọn vẹn mà con chưa từng biết — một cảm giác sâu thẳm trong con — được Chúa biến đến. Con chắc chắn về điều này. Những vết rạn trong trái tim, những góc tối, ẩn giấu, buồn bã mà con đã đóng kín suốt cả cuộc đời để dành cho tình yêu, dường như đã được chạm vào bởi một Lòng Thương Xót Vĩ Đại. Băng tuyết đã tan chảy. Con cảm nhận được điều đó trong mình. Những con sông đóng băng đang dần biến thành hồ... Cánh cửa mở ra và gió thổi qua rèm cửa. Trên sàn nhà có một vệt nắng ấm áp, và những hạt bụi lấp lánh trong không khí; chúng xoáy tròn như những họa tiết trên trang phục của một vũ công quét ngang trên sàn.

Cha Victor thân mến, đây không phải là cơ hội thứ hai, mà là cơ hội đầu tiên. Con mới mẻ với cuộc sống, mới mẻ với thế giới này. Con chưa bao giờ cảm thấy mình mới mẻ như thế này. Bên trong con cảm thấy thật sạch sẽ. Cứ như thể con chưa từng thấy ánh mặt trời bao giờ. Con ngạc nhiên trước đôi mắt của mọi người. Những nếp nhăn nhỏ quanh môi họ khi họ cười. Cách mà các tia nắng tỏa sáng qua họ chứ không chỉ chiếu lên họ. Họ trông thật tuyệt vời.

Nước đã rửa sạch con. Xin hãy tin con. Con chưa bao giờ nghĩ mình có thể hiểu hoặc thậm chí nói ra điều đó.

Dầu đã ban phước cho tôi. Niêm phong tôi trong lòng Giáo Hội vĩnh cữu. Đó là sự thật — Giáo hội là vĩnh cữu và đã tồn tại mãi mãi trong Chúa.

Xin hãy hiểu rằng điều này là thật. Đây không phải là một hình mẫu — không phải là một biểu tượng — không phải là một nghi lễ bị đóng khung trong một nhà thờ nhỏ ở San Francisco. Nó là thật và nó là Nhiệm Mầu và nó đến từ Chúa — nó dành cho tất cả chúng ta. Mọi thứ trong con đều nói rằng điều đó là sự thật. Con nhớ bàn tay của Johann nắm lấy tay con, giúp con bước vào sông Jordan. Con nhớ ánh mặt trời và Chúa Kitô qua Cửa Hoàng gia. Con nhớ Diane khóc trên bờ. Con nhớ giọng nói của cha và con nhớ cách Chúa trải các chòm sao trên bầu trời đêm và rửa sạch con dưới nước và nâng con lên để cho thế giới thấy rằng một đứa trẻ mới đã được sinh ra.

Như một người bạn của con từng nói “bị kéo vào Vinh hiển với tiếng la hét và khóc lóc.”

Cha dẫn con rời khỏi dòng sông, quần áo con dính chặt lên người, tay nắm chặt tay cha quấn trong áo lễ — cát sa mạc nóng rát dưới chân con — niềm vui lấp lánh trong tim — nhìn từng bước đi và nụ cười cùng các ánh mắt trong nhà thờ giữa buổi sáng. Trên bờ sông, mọi người đang chờ đợi. Vợ con dõi theo, và những người đáng mến đã khuyến khích con từ ngày Chủ Nhật Người Con Hoang quay trở lại — luôn quay trở lại. Công thức của sự ăn năn — quay trở lại — luôn luôn quay trở lại — con đường tự do để trở về — con đường rộng mở của sự trở về và ăn năn — đó là khi Chúa phá vỡ trái tim con. Con Có thể chỉ cho cha nơi Chúa làm tan vỡ trái tim con trong nhà thờ của cha — trong nhà thờ của chúng ta. Con có thể chỉ cho cha nơi con lau sàn bằng tay áo sau khi cuối cùng quỳ lạy, kêu cầu, và đáp lại Ngài. Làm sao con có thể đi nơi nào khác? Nơi nào có thể là nhà hơn nơi đây? Con muốn ở nơi Chúa đã làm tan vỡ trái tim con.

Khi con đến gần Chén Thánh, con đã trở về nhà. Con đã về nhà.

Con lớn lên với việc rước lễ nhưng chưa bao giờ thực sự tham gia vào Nhiệm Tích Thánh Thể. Hôm nay, nhờ Ân Điển, con đã có cơ hội nhận Thân và Huyết Chúa Kitô. Con chưa từng trải nghiệm điều đó trước đây mặc dù con thường rước lễ. Không có câu từ nào diễn tả được điều đó — đó là một điều Huyền Nhiệm không thể thốt lên lời. Con im lặng trước điều này. Con chỉ biết ơn vô cùng và được ban phước để im lặng.

Và cuối cùng, con đã về nhà. Cha có tin những lời này không? Con cuối cùng đã về nhà. Chúa yêu con. Con! Con nghĩ điều này là sự thật. Chúa, vì một lý do nào đó — yêu con. Ngài yêu chính bản thân của con — với tên con, tên của con. Chúa biết tên con! Và Ngài yêu con! Chúa biết tâm hồn và trí óc và mỡ và cơ bắp của con, và Ngài yêu con. Chúa biết từng suy nghĩ và nỗi sợ hãi và nỗi đau của con, và Ngài vẫn chấp nhận con. Đó là một hiện thực đáng kinh ngạc nhất có thể. Ôi cha, hôm nay là món quà vĩ đại của Chúa dành cho con và của con cho Ngài. Con trống rỗng và nghèo nàn và trống rỗng trước điều này.

Nhưng trong sự trống rỗng của con, con lại tràn đầy với Ngài. Cha có thấy điều đó không? Lời của con thật hạn chế. Nhưng hôm nay con đã trống rỗng và hôm nay con đã được lấp đầy. Cha cầm Chén Thánh cho Chúa. Đó là điều Ngài đã trao cho cha. Cha thổi vào con như một đại diện của Thân Thể Chúa Kitô và rửa và xức dầu cho con bằng dầu của Ngài. Đó là điều Ngài đã trao cho cha. Cha cho con uống và cho con ăn. Đó là điều Ngài đã trao cho cha. Nhưng Ngài đã làm con trống rỗng, và Ngài đã lấp đầy con bằng Ân Điển của Ngài ngày hôm nay.

Đó là một điều Huyền Nhiệm mà chúng ta đã chia sẻ ngày hôm nay. Cha và con và những trái tim nhân hậu vĩ đại tạo nên Thân Thể Giáo Hội. Đó là hành trình của con — của con — với một cái tên (trong sự trống rỗng và được lấp đầy bở Ân Điển) và của chúng ta như một Giáo Hội.

Con đã được đánh thức bởi nước và Ân Điển và Tình Yêu của Chúa. Con đã được xức dầu với dầu trong thời gian này và vĩnh cửu trong sự Hiện Hữu của Chúa. Con đã được làm mới, tìm thấy và gọi lên, tha thứ và tha thứ và tha thứ. Con đã được nhập vào một sự hiểu biết về một điều Huyền Nhiệm vượt quá sự hiểu biết của con. Con là một kẻ ngốc trong Tình Yêu. Một kẻ ăn mày, và một kẻ ngu ngốc, và một tội nhân. Con đã được bao trùm trong Chúa Thánh Thần và được đặt tên trước một Giáo Hội đã tồn tại vĩnh cữu. Hôm nay thật kỳ diệu và không thể đo đếm được. Con câm nín trước điều này — tê dại với lòng biết ơn và sự cảm tạ — mệt mỏi và hạnh phúc — và sẵn sàng nghỉ ngơi trong đêm an lành của Chúa.

Xin hãy biết rằng con dâng hôm nay cho Chúa. Cha là một phần của điều đó. Barbara và Johann và Ann và Anna và Elaine và mọi người đều là một phần của Điều Đó. Vợ yêu dấu của con, Diane, cũng là một phần của điều đó. Và con cũng là một phần của điều đó. Không còn lời nào cho đêm nay, thưa cha. Chỉ có lòng biết ơn và sự cầu nguyện và im lặng và giấc ngủ. Chúc ngủ ngon, Tình yêu trong Chúa Kitô (điều đó cũng đúng, phải không? Điều đó thật sự đáng kinh ngạc!) — Nilus


Nguồn