Muối Của Đất
Muối Của ĐấtTư liệu về Chính Thống giáo Đông phương

Thánh Paisios của Núi Athos:
Cuộc đời và giáo huấn
- Phần 1

Linh mục Josiah Trenham
✢
08.10.2026 — 46 phút đọc
Cuộc Đời Thánh Nhân

Chuyển ngữ tiếng Việt trên Patristic Nectar. Đây là một trong những bài thuyết giáo của Linh mục Josiah Trenham trong chuỗi các bài giảng của cha về Các Giáo phụ Đương thời.

Lưu ý: Bài viết này được tạo tự động từ bản ghi âm của một bài thuyết giảng. Nội dung đã được ghi lại và hiệu chỉnh nhẹ bằng các công cụ tự động để dễ đọc hơn, nên không phản ánh nguyên văn từng lời của diễn giả. Xin nghe bản ghi âm theo liên kết dưới đây để tiếp cận nội dung gốc.

Muối Của Đất xin được bổ sung thêm phần dịch thuật từ các nguồn tài liệu khác nhau để bổ trợ cho bài viết. Bài sẽ được chia thành hai phần: phần một về cuộc đời của ngài và phần hai về những giáo huấn của ngài.

Nghe bài thuyết giảng gốc trên Patristic Nectar →


Cuộc đời và hành trình tu trì

Ngài được sinh ra vào ngày 25 tháng 7 năm 1924 và an nghỉ trong Chúa vào ngày 12 tháng 7 năm 1994. Ngài được sinh ra với tên là Arsenios Eznepidis trong một gia đình mộ đạo tại thị trấn Pharasa, miền Cappadocia thuộc Tiểu Á trong Thổ Nhĩ Kỳ ngay trước cuộc trao đổi dân cư giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ sau Chiến tranh Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1919 đến năm 1922. Tên của ngài được Cha Arsenios, linh mục giáo xứ, đặt khi ngài lãnh nhận Phép Rửa. Thánh Arsenios người Cappadocia có thể được xem như một vị tiên tri. Lúc làm Phép Rửa cho em bé nhà Eznepidis, ngài đã không hỏi ý cha mẹ đứa bé mà đặt tên em theo tên ngài và nói: "Tôi sẽ để lại một tu sĩ ở lại thay tôi." Như thế, ngài đã không chỉ trao tên mình và thiết lập một mối liên kết tâm linh mãnh liệt với đứa trẻ, mà còn tiên tri rằng em bé ấy rồi sẽ trở thành một vị tu sĩ. Quả thật, lời tiên tri đã ứng nghiệm.

Khi em bé sắp được nhận Phép Rửa, cha mẹ muốn đặt tên em là Christos, theo tên ông nội. Nhưng Thánh Arsenios nói với bà nội em: “Ôi, Hatzi-Anna, tôi đã làm phép rửa cho biết bao đứa trẻ trong gia đình bà rồi! Bà không thể dành một đứa mang tên tôi sao?” Rồi quay sang cha mẹ em, ngài nói: “Các con làm đúng khi muốn để lại một người con trai nối bước ông nội mình, nhưng chẳng lẽ cha lại không muốn để lại một người tu sĩ nối bước cha sao?” Sau đó, ngài quay sang người mẹ đỡ đầu em và bảo: “Hãy nói: ‘Arsenios.’” Và như thế, ngài đã trao cho em chính tên của ngài cùng với lời chúc lành, đồng thời tiên báo rằng sau này em sẽ trở thành một vị tu sĩ.1

Thánh Paisios, Thánh Arsenios và Thánh Euphemia
Thánh Paisios và hai vị Thánh mà ngài yêu mến: Thánh Arsenios (bên trái, 1840-1924) và Thánh Euphemia (bên phải, 304 A.D.)

Trên biểu tượng ấy có hai vị thánh trong hai bức phù điêu tròn, bên trái và bên phải. Vị thánh bên trái là linh mục giáo xứ của ngài, Thánh Arsenios người Cappadocia. Vị thánh bên phải là một trong những người bạn thân thiết nhất của ngài, một vị thánh sống trước đó mười sáu thế kỷ: Thánh Euphemia.

Thánh Euphemia là người bảo vệ kiên cường tại Công đồng đại kết thứ Tư,2 và thánh tích của ngài hiện được lưu giữ tại nhà thờ Thánh George ở Phanar hiện ở Istanbul, và ngài đặc biệt gần gũi với Cha Paisios. Vị thánh nữ đã nhiều lần hiện ra, và họ đã trò chuyện với nhau rất nhiều. Cha Paisios hết lòng yêu kính Thánh Euphemia. Thật vậy, lễ Phụng vụ cuối cùng ngài tham dự là lễ kính của vị thánh nữ, ngày 11 tháng 7, ngay trước khi ngài an nghỉ ngày 12 tháng 7. Thật quả là xứng đáng khi vị thánh, người được ngài hết mực yêu mến, có ngày lễ kính chỉ trước ngày lễ của ngài đúng một ngày.

Không lâu sau Phép Rửa, em bé Arsenios và gia đình buộc phải rời khỏi Tiểu Á theo Hiệp ước Hòa bình Lausanne. Thánh Arsenios, linh mục giáo xứ của họ, đã dẫn đoàn chiên rời Thổ Nhĩ Kỳ, đi bộ 400 mile3 đến Hy Lạp. Ngài báo trước rằng ngài sẽ qua đời không lâu sau đó, và quả thật sự việc đã xảy ra như lời ngài nói.

Cuối cùng, gia đình Eznepidis định cư tại thị trấn Konitsa, thuộc Epirus ở miền tây bắc Hy Lạp. Đúng như lời tiên báo, Thánh Arsenios an nghỉ bốn mươi ngày sau khi đoàn đã lập cư tại Hy Lạp. Ngài đã để lại người kế thừa tâm linh là đứa bé đã được ngài đặt theo tên mình. Em lớn lên tại Konitsa, học nghề thợ mộc và đi học trong ngôi làng nhỏ bé ấy.

Thánh Paisios và Thánh Arsenios
Thánh Paisios đứng trước Thánh tích của Thánh Arsenios Người Cappadocia
Thánh Arsenios
Biểu tượng của Thánh Arsenios

Trong cuộc nội chiến Hy Lạp sau Thế chiến thứ Hai, chàng thanh niên Arsenios phục vụ trong quân đội với nhiệm vụ điện báo viên.

Arsenios chứng kiến tình hình Hy Lạp ngày càng trở nên phức tạp; chẳng bao lâu nữa, anh sẽ được gọi nhập ngũ để phục vụ tổ quốc. Trong nhà nguyện kính Thánh Barbara, anh tha thiết cầu nguyện với Đức Mẹ:

“Xin hãy để con chịu khổ, xin hãy để con gặp hiểm nguy, nhưng xin đừng để con giết bất cứ ai; và xin làm cho con xứng đáng trở thành một tu sĩ.”

Sau đó, anh thề nguyện với Đức Mẹ rằng, nếu Mẹ gìn giữ anh trong cuộc chiến, anh sẽ dành ba năm phụng sự tại tu viện của Mẹ ở Stomio, góp phần xây dựng lại những gì quân Đức Quốc xã đã thiêu hủy.4

Ngài đã phục vụ trong quân đội hơn ba năm rưỡi, và quãng thời gian đó đã để lại trong ngài nhiều dấu ấn. Cũng vì thế, các giáo huấn sau này của ngài được diễn đạt bằng hình ảnh và thuật ngữ quân sự.

Tôi nhớ một lần, trong cuộc Nội chiến Hy Lạp, khi một ngàn sáu trăm quân du kích đã bao vây chúng tôi rất chặt. Chúng tôi tổng cộng chỉ có một trăm tám mươi người lính, cố thủ sau một mỏm đá nhô ra. Nếu bị bắt, chúng chắc hẳn sẽ giết hết chúng tôi. Tôi đang cố dựng ăng-ten cho máy vô tuyến nhằm liên lạc với Bộ Chỉ huy Trung tâm. Tôi không thể làm được; ăng-ten cứ bị bắn gãy bởi những loạt đạn không ngớt. Viên đại úy quát tôi: “Dẹp cái đó đi! Lại đây! Giúp khiêng một hai thùng lựu đạn!” Đồng thời, ông liên tục đi kiểm tra các ổ súng máy. Ngay khi ông rời đi, tôi lại chạy về phía máy vô tuyến. Trong khi chờ ông ra lệnh tiếp, tôi vừa cố dựng ăng-ten, vừa chạy sang giúp đỡ để ông khỏi phải quát. Cuối cùng, nhờ một chiếc xẻng và một cây gậy, tôi đã dựng được ăng-ten và thiết lập được liên lạc. Tôi chỉ cần nói đúng hai từ.

Thế là xong! Sáng hôm sau, không quân đến giải cứu chúng tôi. Việc một trăm tám mươi người bị một ngàn sáu trăm quân địch bao vây mà cuối cùng vẫn được giải thoát, chẳng lẽ đó là một chuyện nhỏ sao?

Biến cố ấy đã giúp tôi nhận ra được sứ mệnh lớn lao của người tu sĩ: trợ giúp người khác thông qua lời cầu nguyện. Người đời thường nói: “Các tu sĩ làm gì ở đó vậy? Tại sao họ lại không bước vào đời để giúp ích cho xã hội?” Điều đó chẳng khác nào nói với một nhân viên vô tuyến: “Anh đang làm gì ở đó với cái máy vô tuyến vậy? Dẹp cái máy đó đi; cầm súng lên và sang đây chiến đấu!”

Chúng ta sẽ chẳng nhận được điều gì khi liên lạc với tất cả các đài trên khắp thế giới nếu chúng ta không có sự kết nối với Thiên Chúa và thiết lập mối liên lạc thiên quốc với Ngài, để cầu xin và đón nhận sự trợ giúp của Ngài. Phúc thay cho những ai đã bắt đúng Đài Thiên Quốc và thành kính duy trì cùng một tần số với Thiên Chúa.5

Ngài được các đồng đội rất yêu mến, đặc biệt là những người đã lập gia đình. Bản thân ngài chưa lập gia đình và sống độc thân suốt đời, nhưng ngài luôn lo lắng cho những người lính có gia đình trước những nguy cơ họ có thể hy sinh trong cuộc chiến này. Ngài luôn dấn thân vào những tình huống nguy hiểm. Mỗi khi thấy một người đã có gia đình sắp nhận một nhiệm vụ nguy hiểm, ngài liền nói: "Không, không, hãy để tôi đi. Hãy để tôi đi. Anh còn có vợ, có con. Nếu tôi bị giết thì ai quan tâm? Chẳng ai biết đến tôi."

Ngài chẳng màng đến bản thân mà chỉ lo lắng cho người khác. Và ngài quan tâm đến người khác cho đến hơi thở cuối cùng. Ngài nhìn nhận mười lăm năm cuối cuộc đời chỉ với một mục đích: đón nhận nỗi đau của người khác rồi dâng lên cho Chúa Kitô để được chữa lành. Ngay khi còn trẻ, ngài đã nổi tiếng bởi lòng can đảm, tinh thần hy sinh, sự ngay thẳng và phẩm hạnh vẹn toàn.

Thánh Paisios thời trẻThánh Paisios thời trẻ
Thánh Paisios khi ngài đang phục vụ quân ngũ

Sau khi cuộc nội chiến kết thúc, ngài mong muốn bước vào cuộc sống tu trì. Thế nhưng, những người em gái của ngài vẫn chưa lập gia đình, và ngài rất lo lắng cho họ. Đến năm 1950, khi đã ngoài hai mươi tuổi và đã thu xếp ổn thỏa cho tương lai của những người em gái, ngài mới có thể bắt đầu ơn gọi tu trì. Năm ấy, ngài đến Núi Athos, nơi ngài gọi là "châu Mỹ thiêng liêng", và ban đầu làm môn đệ của Cha Cyril, vị tu viện trưởng tương lai của tu viện Koutloumousiou. Đến năm 1954, ngài chuyển sang tu viện Esphigmenou.

Arsenios noi theo các nhà khổ tu thánh thiện và nỗ lực sống theo gương các ngài. Ngài lấy đức tính khiêm hạ và sự vâng phục làm nền tảng cho đời sống tu trì, đồng thời dấn thân vào những cuộc chiến đấu khổ hạnh vượt quá sức mình.

Ban ngày, ngài lao động chân tay, và ban đêm, ngài thức cầu nguyện và tôn vinh Thiên Chúa. Dù kiệt sức, ngài vẫn luôn kiên định trong đời sống khổ hạnh. Ngài liên tục đón nhận những khó khăn mới, luôn luôn với một tinh thần lạc quan, cùng với sự chúc lành và dưới sự hướng dẫn của viện phụ. Ngài làm mọi việc với niềm vui. Về sau, ngài kể lại: “Suốt ngày, chúng tôi làm việc vất vả bên máy tiện. Tới tối, tôi đến nhà khách phụ mọi người cho đến mười hoặc mười một giờ đêm. Không còn thời gian dành cho việc tu tập thiêng liêng, nên khi trở về phòng mình, tôi không ngủ. Tôi chỉ gác chân lên để nghỉ một chút và giúp máu lưu thông, vì phải đứng suốt ngày nên máu dồn xuống hai bàn chân. Sau đó, tôi đứng dậy và bước vào một chậu nước để khỏi ngủ gật trong lúc đọc Lời cầu nguyện6 bằng chuỗi cầu nguyện. Tôi chỉ ngủ khoảng ba mươi phút cho đến một giờ, rồi đi đọc giờ Kinh Nửa Đêm.”7

Sau bốn năm làm tập sinh, Arsenios được nhận phép cắt tóc tu sĩ và được ban tên mới là Averkios. Ngài là một tu sĩ toàn tâm toàn ý, và ngài biết cách vừa chu toàn các phận vụ vâng phục của mình, vốn đòi hỏi phải thường xuyên tiếp xúc với người khác, và vừa giữ được sự thinh lặng trong tâm hồn. Bằng một cách nào đó, ngài có cân bằng được cả hai: sống giữa mọi người mà vẫn giữ được một tâm hồn tĩnh lặng. Sự hiện diện của Tu sĩ Averkios đem lại bình an cho những người xung quanh.

Kể từ đó, tân tu sĩ Averkios bắt đầu ghi chép lại những điều mình đọc. Bất cứ điều gì ngài nhận thấy hữu ích trong cuộc chiến đấu tâm linh, ngài đều chép vào cuốn sổ tay và cố gắng thực hành những điều đó. Cuộc chiến đấu nội tâm, âm thầm và vô hình của ngài bao gồm: nghiên cứu các tác phẩm khổ tu liên quan đến những vấn đề thiết thực; liên tục quan sát bản thân; cầu nguyện không ngừng nghỉ; kiên quyết thanh lọc bản thân khỏi những ham mê cũng như việc nỗ lực thu nhận Ân sủng Thiên Chúa.

Trong khi làm việc cùng các cha khác và chu toàn bổn phận của mình, ngài cố gắng cầu nguyện không ngừng nghỉ, làm việc một cách nhanh nhẹn và trong im lặng. Trưởng lão Gerasimos thành Koutloumousiou, một người bạn đồng tu với ngài, nhớ lại: “Khi tất cả chúng tôi cùng nhau làm việc chung, chúng tôi thường trò chuyện và cười đùa, nhưng ngài không nói gì cả. Ngài làm phần việc của mình, tránh trò chuyện dài dòng và không phán xét người khác. Ngài là một tu sĩ vô cùng thận trọng và tận tâm.”8

Từ khi còn là một tu sĩ trẻ, ngài đã chú tâm học tập nghệ thuật cầu nguyện. Ngài nổi tiếng bởi sự hy sinh bản thân và sự sẵn lòng giúp đỡ những người anh em của mình. Ngài không bao giờ cho phép mình nghỉ ngơi cho dù đã hoàn thành mọi công việc và sứ vụ vâng phục của mình trong tu viện. Nếu ngài thấy các anh em còn làm việc, ngài không thể cho phép mình ngồi xuống nghỉ ngơi. Ngài làm việc khi người khác làm việc. Ngài không thể chịu được ý nghĩ rằng mình nghỉ ngơi trong khi người khác vẫn còn đang làm việc.

Không lâu sau khi lãnh nhận phép cắt tóc tu sĩ, ngài rời tu viện Esphigmenou và gia nhập cộng đoàn tu sĩ theo thể chế tự lập9 tại tu viện Philotheou, nơi người chú của ngài đang tu hành. Tại đây, ngài sống dưới sự vâng phục của Trưởng lão Simeon. Năm 1956, vị trưởng lão trao cho ngài Tiểu Schema và ban cho ngài tên mới: Paisios.

Bức thư Thánh Paisios viết cho mẹ ngài
Bức thư Thánh Paisios viết cho mẹ ngài, tạm dịch:

Mẹ yêu dấu, con chào mẹ, con lên đường làm tu sĩ,
Con lìa cuộc đời phù phiếm, để qua mặt kẻ lừa dối.
Trong cô tịch, trong hoang địa, để trải qua tuổi thanh xuân,
Vì lòng yêu mến Chúa Kitô, tất cả con sẽ hy sinh.
Mọi của cải thế gian, con xem như rác bỏ,
Để chu toàn giới răn đầu: yêu mến Thiên Chúa.
Với thập giá, đến Golgotha, để theo Chúa Giêsu,
Và tại Giêrusalem trên trời, con cầu mong gặp mẹ.
Con rời tình thương bao la của mẹ, mẹ yêu, để con có thể
Để mẹ con ta ở bên nhau mãi mãi, con sẽ cầu xin Chúa Giêsu.
Vì lẽ ấy, từ thuở nhỏ, con đã muốn khoác áo đen,
Để hiến mình cho Chúa Kitô, để làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Và từ nay, con có Đức Panagia10 làm Mẹ,
Để Người gìn giữ con khỏi sự quỷ quyệt của kẻ thù, để con không bị tổn hại.
Mẹ của con, với lòng thành kính sâu xa, trong hoang địa, nơi đây, trong tĩnh lặng,
Con sẽ luôn cầu nguyện cho mẹ và cho toàn thể cộng đồng.

Tu sĩ Paisios, Tu viện Philotheou, Núi Athos, ngày 1 tháng 5 năm 1957
Kính dâng người Mẹ khả kính và đạo hạnh của con.
Paisios

Tu sĩ Paisios thường xuyên trăn trở về những thiếu sót trong đời sống tâm linh của mình. Ngài không ngừng tự suy xét và phê bình bản thân vì cho rằng mình vẫn còn thiếu vắng tình thương, điều mà ngài tin là nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót của người lân cận cũng như các căn bệnh trên thế giới. Trong những năm ấy, ngài quyết tâm chối bỏ bản thân và cầu nguyện sốt sắng hơn cho toàn thể nhân loại. Điều này nghe thật quen thuộc, như thể được kể từ câu chuyện của Trưởng lão Sophrony hay Trưởng lão Epiphanios, bởi vì các ngài đều có chung một tấm lòng.

Năm 1958, sau tám năm sống trên Núi Thánh, Trưởng lão Paisios được thỉnh cầu để trở về quê nhà và các vùng lân cận trong một khoảng thời gian bởi vì quê nhà của ngài, vùng tây bắc Hy Lạp, đang bị những nhà truyền giáo Kháng Cách tràn đến, tìm cách lôi kéo dân chúng rời bỏ Chính Thống giáo. Dân làng thỉnh cầu ngài rời Núi Thánh để về sống giữa họ và bảo vệ cộng đoàn khỏi lạc giáo và chống lại các hoạt động truyền giáo ấy. Ngài vui lòng làm theo sau khi nhận được sự chúc lành.

“Trong khi tôi đang cầu nguyện trong phòng mình, đột nhiên toàn thân tôi trở nên bất động. Tôi không thể nào đứng dậy được. Tôi nhận ra rằng có điều gì đó đang xảy ra, bởi một sức mạnh vô hình đang giữ tôi đứng im... Trong tình trạng ấy, tôi nhìn thấy—như thể đang xem trên truyền hình—một bên là Katounakia và bên kia là tu viện Stomio. Tôi khát khao hướng mắt về phía Katounakia. Sau đó, một giọng nói—đó là tiếng của Đức Mẹ—phán rõ ràng: ‘Ngươi sẽ không đến Katounakia; ngươi sẽ đến tu viện Stomio.’ Tôi thưa: ‘Lạy Đức Mẹ Chí Thánh, con đã cầu xin Mẹ cho con được sống trong hoang mạc, vậy mà Mẹ lại sai con trở về giữa thế gian sao?’ Sau đó, tôi lại nghe chính giọng nói ấy nghiêm khắc bảo: ‘Con hãy đi gặp người này; người ấy sẽ giúp đỡ con rất nhiều.’” ... “Sau đó, tôi gặp và kể lại mọi chuyện với cha linh hướng của mình. Ngài nói với tôi: ‘Đây là thánh ý Thiên Chúa. Nhưng con đừng kể chuyện này cho bất kỳ ai. Hãy nói rằng vì lý do sức khỏe’—lúc ấy tôi đang bị mất máu—‘con phải rời Núi Athos; rồi hẵng lên đường.’

Tôi muốn một điều, nhưng Thiên Chúa lại có những dự định riêng của Ngài. Về sau, tôi mới thấy rằng lý do chính khiến tôi rời Núi Athos để đến Stomio là vì tại đó đã có tám mươi gia đình Chính Thống giáo theo đạo Kháng Cách và cần được giúp đỡ để trở về với Chính Thống giáo.”11

“Nhờ Đức Chúa, bước chân của một người được dẫn dắt ngay đường”.12 Qua một mặc khải, giờ đây Chúa dẫn bước người của Thiên Chúa là Paisios đến tu viện Stomio, nằm ở vùng quê Konitsa. Ngài từng khát khao đời sống trong hoang mạc và đã chuẩn bị bản thân cho cuộc sống ấy, nhưng lời phán của Đức Mẹ, ngài lại đến sống trong một tu viện giữa thế gian. Ngài kể: “Tôi không ngờ Đức Panagia lại yêu cầu tôi thực hiện lời nguyện thề rằng nếu Mẹ che chở tôi trong chiến tranh, tôi sẽ xây dựng lại tu viện của Mẹ đã bị thiêu rụi. Dẫu sao tôi cũng đã trở thành một tu sĩ, nhưng xem ra Mẹ lại nhìn nhận một cách khác.”13

Khả năng đối thoại với các hệ phái phương Tây, những hình thức Kitô giáo sai lệch cũng như các tôn giáo khác là một trong những điểm nổi bật trong giáo huấn của ngài. Có cả những cuốn sách viết về cách ngài giúp những người đến từ các tôn giáo phương Đông và các hình thức Kitô giáo không chính thống khác bước vào đức tin chân thật. Ngài sống trong một tu viện nhỏ bên rìa làng, chăm sóc và khích lệ các tín hữu nơi đấy. Hãy nhớ rằng ngài chỉ là một người tu sĩ giản dị, không phải là một linh mục cử hành phụng vụ. Ngài sống giữa họ như một người con của vùng Konitsa trở về sau nhiều năm trên Núi Thánh, vững vàng trong đức tin, và nhờ sự hiện diện của ngài, mọi người đã tìm lại được sự cân bằng và biết cách bảo vệ đức tin của chính mình.

Thiên Chúa đã dùng cha Paisios để xua tan sự lầm lạc của giới Kháng Cách. Mặc dù không được học hành nhiều, ngài vẫn là người “đầy ân”,14 đồng thời đã được tinh luyện trong đức tin Chính Thống giáo. Trước hết, ngài tìm hiểu đức tin của những nhà truyền giáo mà ngài ví như loài sói ấy. Sau đó, ngài viết một bài giải thích những người thuộc phái Kháng Cách này là ai và dán bài ấy lên trong tu viện để khách hành hương đọc. Khi các nhà truyền giáo tổ chức hội họp, ngài cử một người của ngài để tìm hiểu xem những tín hữu Chính Thống giáo nào đã tham dự, rồi sau đó mời từng người đến gặp ngài. Ngài khuyên răn những người chịu đến gặp ngài, và từ đó họ không bao giờ tham dự các cuộc tụ họp lạc giáo nữa. Ngài còn thuê một số người trong họ làm công ăn lương tại tu viện và thuyết phục họ chấm dứt quan hệ với nhóm lạc giáo. Về sau, họ trở thành những tấm gương sáng trong đời sống Kitô hữu.

Ngài cũng chúc lành cho một nhóm thanh niên đi tháo tấm biển bên ngoài phòng hội của các nhà truyền giáo vào một đêm. Ngài đã trao đổi với người đứng đầu nhóm ấy, một người đến từ Thessaloniki, và thuyết phục ông ta không bao giờ trở lại Konitsa nữa. Nhờ lời cầu nguyện cùng với việc tiếp cận vấn đề một cách chủ động và đầy sáng suốt, ngài đã đưa tất cả những người đã từng bị các tín đồ Tin Lành lôi kéo trở về. Nhờ đó, tại Konitsa một lần nữa chỉ còn “một đoàn chiên và một mục tử.” (Gioan 10:16)15

Năm 1962, ngài đến thăm Núi Sinai và lưu lại đó trong hai năm. Ngài được những người Bedouin làm việc cho tu viện và sống gần đó hết lòng quý mến. Ngài nâng đỡ họ cả về đời sống tâm linh lẫn vật chất. Như bao tu sĩ khác trên núi Athos, ngài làm thợ mộc và làm rất nhiều công việc liên quan đến đồ gỗ. Ngài làm thánh giá và một số các vật dụng khác rồi bán lấy chút tiền mua lương thực. Trong thời gian ở núi Sinai, ngài dùng số tiền ấy để mua đồ ăn cho người Bedouin, giúp đỡ họ trong miền hoang mạc trên bán đảo Sinai.

Công việc thủ công của vị Trưởng lão là chạm khắc gỗ. Về sau, ngài kể lại: “Tôi khắc những biểu tượng miêu tả Tiên tri Môsê lãnh nhận Mười Điều Răn. Tôi tự mình đốn gỗ. Bên con suối, theo hướng đi đến nhà nguyện kính các Thánh Vô Ngân, có một lùm cây nhỏ gồm vài cây trông giống cây dương. Tôi đốn chúng xuống rồi để cho khô. Sau đó, tôi đẽo những thanh gỗ và làm nên các biểu tượng nhỏ. Nhiều đêm, tôi mở cửa phòng tu, rồi dưới ánh trăng, tôi vừa đọc Lời Cầu Nguyện vừa chà nhám và chuẩn bị gỗ.

Dụng cụ của tôi chỉ là hai lưỡi kéo nhỏ lấy từ một chiếc kéo hiệu Singer mà tôi đã mang theo từ Hy Lạp. Tôi tháo rời chiếc kéo, mài sắc hai lưỡi rồi sơn chúng bằng sơn dầu màu xanh lá cây để chúng không phản chiếu ánh nắng làm chói mắt tôi khi đang làm việc.

Ban đầu, tôi mất ba ngày để hoàn thành một biểu tượng nhỏ. Về sau, tôi có thể làm xong một bức trong mười một giờ.

Tôi trao những sản phẩm thủ công của mình cho tu viện để họ bán. Khách hành hương đều mua hết một cách nhanh chóng. Sau đó, tôi nhận số tiền ấy và đưa cho một vài tài xế taxi quen biết ở Cairo. Tôi nhờ họ mua quần áo, mũ, bánh quy, thực phẩm và những thứ tương tự. Rồi tôi chất đầy túi những ‘tặng phẩm phúc lành’ ấy và hỏi xem người Bedouin đang dựng trại ở đâu. Tôi đến các lều trại của họ, đứng bên ngoài gọi lớn để bọn trẻ chạy ra, rồi phân phát những món quà ấy cho chúng.”

St. Paisios at Mount Sinai
Thánh Paisios tại núi Sinai

Năm 1964, ngài trở lại Núi Athos và cư ngụ tại ẩn thất Iviron, trước khi chuyển đến Katounakia ở cực nam Núi Athos để sống một thời gian ngắn trong hoang mạc. Có lẽ sức khỏe dần suy yếu của ngài là một phần nguyên nhân khiến ngài phải rời khỏi vùng đất khắc nghiệt này. Năm 1966, ngài phải đi phẫu thuật để cắt bỏ một phần phổi.

Trong một lá thư viết tại khoa phẫu thuật của bệnh viện, đề ngày 10 tháng 12 năm 1966, vị Trưởng lão đã kể lại cuộc phẫu thuật: “Đó là một ca phẫu thuật rất nghiêm trọng. Các bác sĩ đã cắt bỏ thùy trái và cả một phần thùy phải... Ca phẫu thuật kéo dài khoảng mười giờ. Tôi bị chảy máu liên tục trong lúc mổ, khiến mọi việc trở nên khó khăn. Họ phải truyền cho tôi tám pint máu... Chín ngày sau, các ống dẫn lưu bằng cao su được tháo ra, khiến tôi rất khó thở. Vì thế, các bác sĩ buộc phải phẫu thuật lại khoảng hai tiếng nữa để đặt chúng trở lại, rồi chúng được giữ lại đó thêm hai mươi ngày nữa. Cuộc phẫu thuật cũng ảnh hưởng đến thị lực của tôi. Mắt phải vẫn nhìn rõ, nhưng mắt trái hơi khép lại và thị lực chỉ còn ở mức trung bình. Điều này không quan trọng với tôi lắm—có những người sinh ra đã hoàn toàn mù lòa.”

“Sự thật là tôi đang phải chịu rất nhiều đau đớn, nhưng ngay cả khi không mắc bệnh, nếu một người phải trả giá theo cách này và trải qua một cuộc tử đạo như thế thì cũng đáng, bởi trải nghiệm này đã giúp ích cho tôi rất nhiều.”

“Trước đây, khi đọc Kinh Thánh nói về cuộc Thương Khó của Chúa, tôi chỉ đọc như một người đọc một câu chuyện. Đối với hạnh các thánh cũng vậy. Nhưng giờ tôi đã có thể cảm nhận được những điều mình đọc, bởi chính tôi đã nếm trải một chút đau đớn. Đã hai mươi lăm ngày trôi qua mà cơn đau vẫn không hề thuyên giảm.”16

Trong thời gian nằm viện, ngài kết thân với những thiếu nữ và nữ tu, những người sau đó trở thành những người con linh hướng của ngài tại tu viện Thánh John Thánh sử ở ngoài rìa Thessaloniki, bên trong thị trấn nhỏ Souroti. Tu viện ấy trở thành mái nhà của ngài, và ngài làm cha linh hướng cho các nữ tu từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời năm 1994. Đây cũng là nơi ngài an nghỉ và được an táng. Và tại đây, ngôi mộ khiêm tốn của ngài, với những viên đá trắng nhỏ được phủ lên, đã trở thành một địa điểm hành hương thu hút đông đảo mọi người từ khắp nơi trên thế giới.

St. John the Theologian Monastery Souroti
Tu viện Thánh John Thánh Sử tại Souroti

Trong thời gian phẫu thuật, ngài thiết lập một mối liên kết tâm linh sâu xa với các nữ tu và đã sống vì họ trong nhiều thập niên. Năm 1968, ngài cư ngụ tại tu viện Stavronikita trên Núi Athos, giúp đỡ nơi đây cả về mặt tâm linh lẫn vật chất trong thời kỳ tu viện được khôi phục.

Tại đó, ngài có phúc được tiếp xúc với một vị khổ tu là Trưởng lão Tikhon, người sống trong ẩn thất Thánh Giá Thiêng Liêng rất gần tu viện. Ngài đã ở bên vị trưởng lão và trung tín phụng sự ngài như một môn đệ cho đến khi vị trưởng lão an nghỉ. Trong thời gian này, Trưởng lão Tikhon khoác Đại Schema cho Cha Paisios. Theo ước nguyện của vị trưởng lão, Cha Paisios sẽ tiếp tục lưu lại ẩn thất của Trưởng lão Tikhon sau khi ngài qua đời. Cha Paisios lưu lại đó cho đến năm 1979 rồi chuyển về nơi cư ngụ cuối cùng của mình trên Núi Thánh, ẩn thất Panagouda thuộc tu viện Koutloumousiou. Đây là túp lều nhỏ nơi ngài sống suốt mười lăm năm cuối đời. Chính tại nơi đây đã diễn ra rất nhiều câu chuyện, hình ảnh và các đoạn clip nổi tiếng cũng ghi lại hình ảnh ngài ngồi trên một gốc cây nhỏ giữa những người hành hương...17

Ẩn thất Panagouda
Ẩn thất Panagouda trên Núi Athos
Thánh Paisios
Thánh Paisios cùng với các khách hành hương

Panagouda là một ẩn thất nơi Trưởng lão Paisios sống suốt mười lăm năm cuối đời. Tại đó, ngài thu hút những người bệnh tật và đau khổ trong Thiên Chúa và đón tiếp họ vào ban ngày. Ban đêm, ngài dành thời gian cầu nguyện, canh thức và đấu tranh tâm linh, nhưng khi mặt trời lên, ngài đón khách và giúp đỡ họ trong cuộc sống. Với lối sống kỷ luật, cầu nguyện và khổ hạnh nghiêm nhặt, mỗi đêm ngài chỉ nghỉ khoảng hai đến ba tiếng; dẫu thân thể đã rất suy nhược, ngài vẫn sống khắc khổ đến như thế.

Vị Thánh tiếp đón họ cả một ngày, hy sinh vô số giờ cho họ. Ngài mời họ chút đồ giải khát, lắng nghe những khó khăn của họ, cùng vác thập giá, mang lấy nỗi đau của họ, khuyên bảo, khiển trách, chữa lành và thậm chí còn làm cho họ vui. Ngài chẳng hề bận tâm đến tình trạng của bản thân—dù ngài đang mệt mỏi, đói, khát, kiệt sức hay đau yếu. Tuy nhiên, điều khiến ngài nặng lòng là việc cầu nguyện không xao nhãng của ngài thường xuyên bị gián đoạn và rút ngắn. Ngài khao khát được sống trong thinh lặng và giữ được sự liên thông với Thiên Chúa mà không bị phân tâm. Nhưng trái tim nhạy cảm và tràn đầy tình thương không cho phép ngài để những người “đang vất vả và mang gánh nặng nề” ra về mà không được an ủi.

Ngài tìm được cách tốt nhất để có thể kết hợp việc phục vụ mọi người với đời sống cầu nguyện trong thinh lặng18. Mọi hành động của ngài đều được hướng dẫn một cách chính xác nhờ ơn thấu thị và một số biến cố thần linh phi thường. Thông qua đó, ngài biết được tính tình của khách viếng thăm và mức độ nghiêm trọng của những vấn đề họ đang gặp phải—thường là ngay cả trước khi ngài gặp họ.

Theo lời chứng của một người, có lần khi vị Trưởng lão đang vô cùng mệt mỏi, một người nào đó liên tục rung chuông ngoài cửa. Khi đi ra mở cửa, ngài nhìn thấy cha Tikhon—vị trưởng lão khả kính đã an nghỉ của ngài—đang đứng bên ngoài hàng rào, vui vẻ nói: “Cha rất vui khi thấy con tiếp đón mọi người.” Biến cố ấy đã tác động mạnh mẽ đến quyết định trong lòng ngài, khiến ngài càng dấn thân hơn nữa vào sứ vụ này.19

Cũng có một trình thuật kể rằng chính Đức Mẹ đã hiện ra với ngài và nói: “Công việc của Mẹ là bảo vệ ranh giới [trên núi Athos] của con tại đây, và Mẹ vẫn đang làm điều đó. Con hãy [phần của con] tiếp đón mọi người không một ngoại lệ, vì họ đang cần được giúp đỡ.” Thánh nhân khiêm nhường vâng lời Đức Theotokos và theo lời phán của Mẹ, ngài đón nhận sứ vụ phục vụ những người đau khổ.

Mặc dù tiếp đón tất cả những ai tìm đến, người đời không thể làm ngài thay đổi—họ không khiến ngài trở nên thế tục. Trái lại: nhờ Ân sủng Thiên Chúa, vị Trưởng lão đã chuyển hoá mọi người, vì ngài đã hy sinh bản thân mình cho họ. Bản thân ngài cũng phát triển và thăng tiến trên đường tâm linh, “từ sức mạnh của hành động đến sức mạnh của thị kiến thần linh,”20 và ngài có rất nhiều trải nghiệm phi thường của thiên quốc. Dựa trên kinh nghiệm của đời sống cầu nguyện trong thinh lặng, ngài dành ban đêm để cầu nguyện, cùng với bất cứ giờ nào trong ngày mà ngài có thể ở một mình.

Khi ở một mình, ngài mang những lời thỉnh cầu của mọi người đến trước Thiên Chúa trong lời cầu nguyện; khi ở giữa mọi người, ngài rao giảng về Chúa Kitô. Thiên Chúa và những người khốn khổ đã trở thành hai trục chính mà toàn bộ cuộc đời ngài xoay quanh.21

Ngoài căn bệnh hô hấp, những năm cuối đời ngài còn mắc chứng thoát vị nghiêm trọng khiến cho cuộc sống trở nên vô cùng khó khăn, và nhiều lần ngài phải rời Núi Thánh vì nhiều lý do, nhưng đa phần là do bệnh tật. Mỗi khi xuống núi, ngài thường đến tu viện nữ ở Souroti, nơi các nữ tu tận tình chăm sóc. Phần lớn giáo huấn của ngài mà chúng ta có được ngày nay ở dạng văn bản đều do các nữ tu ghi chép, biên tập và xuất bản. Nếu không có họ, chúng ta đã không nhận được kho tàng lớn lao ấy.

Ngài gánh lấy nỗi đau của người khác với một ân sủng phi thường, mặc dù khách viếng thăm nhiều lần thấy sắc mặt ngài tái nhợt sau nhiều giờ quên mình để ở bên họ. Đối với ngài, việc bệnh tật và chịu khổ vì người khác là một niềm vui lớn. Một trong những lời ngài từng dạy là con người ở thời hiện đại, thế hệ của chúng ta, đang phải chịu đựng ba tai ương đặc biệt: bệnh tâm thần, ly hôn và ung thư. Ngài nói ba điều ấy đã gây nên biết bao nỗi khổ cho con người ở xã hội đương thời. Bởi quá yêu thương họ, ngài muốn nếm trải nỗi khổ của họ để có thể giúp họ vượt qua. Ngài không thể trải nghiệm ly hôn vì ngài là tu sĩ và không kết hôn, và ngài không muốn trải nghiệm bệnh tâm thần vì sợ sẽ đánh mất việc cầu nguyện nếu ngài mắc bệnh tâm thần.

Vì vậy, ngài đã thật sự cầu xin Thiên Chúa cho mình căn bệnh ung thư. Và Thiên Chúa đã nhận lời. Ngài đã được ban cho bệnh ung thư và chính từ trong căn bệnh này, ngài đã để lại những lời giáo huấn tuyệt đẹp về cách để chịu đựng. Ngài nổi tiếng với câu nói giản dị: "Ung thư đã làm cho thiên đàng đông dân hơn." Ý ngài là ung thư thường là một căn bệnh cho ta thời gian để chuẩn bị hơn là giết bệnh nhân ngay lập tức. Trong thời đại thế tục hóa, căn bệnh ấy có thể trở thành một sự chuẩn bị cho thiên đàng: người ta nhận ra rằng mình đã sống vì những điều sai lạc, họ thay đổi cuộc đời, chấn chỉnh lại mối quan hệ với Thiên Chúa và Giáo hội, và bước vào thiên đàng. Ngài xem đó là lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng cho phép một căn bệnh trở thành một cơ hội để con người có thể chuẩn bị cho cuộc sống đời sau.

...khi một người hỏi tại sao ngài không đi khám bác sĩ, ngài trả lời: “Thôi nào, chàng trai phúc hậu! Những người khốn khổ đang tìm đến đây. Biết bao đau đớn, biết bao gian nan, biết bao tốn kém! Anh lại bảo tôi đi chăm lo cho sức khỏe của mình, để rồi những người đang đau khổ ấy đến đây và thấy cửa phòng tôi khoá sao? Hơn nữa, làm sao tôi có thể lên đó (lên Thiên đàng) nếu chưa từng trải qua đau đớn, chưa từng trải qua gian khổ? Trên đó, chẳng có ai là chưa từng chịu khổ. Nếu tôi cứ giữ nguyên như thế này mà ra đi, không hề trải qua nỗi khổ nào, thì sẽ chẳng ai nhận ra tôi.” Rồi ngài mỉm cười, vỗ nhẹ vào lưng anh và nói tiếp: “Thật ra, con người cần phải trải qua đau khổ; nếu cứ sống trong tiện nghi, người ta sẽ không đủ can đảm để đối diện với cái chết.”

Vị Trưởng lão thánh thiện biết mình mắc bệnh ung thư và căn bệnh ấy sẽ đưa ngài đến sự sống đích thực, sự sống vĩnh cửu. Chính ngài đã cầu xin Thiên Chúa ban cho điều ấy. Cũng như trái tim người mẹ đau như lửa đốt khi thấy con mình bị sốt cao, và nếu có thể, bà mong được bị sốt thay cho người con để thấy con được khỏe lại, vị Thánh cũng cầu xin Thiên Chúa ban cho ngài mang lấy căn bệnh ung thư của biết bao bệnh nhân ung thư mà ngài từng gặp, để làm nhẹ bớt gánh nặng cho họ và gia đình họ. Mặc dù bệnh tật làm ngài đau đớn và cản trở việc chu toàn sứ vụ phục vụ hằng ngày của ngài (diakonia), ngài vẫn vui lòng chịu đựng. Ngài cảm thấy rằng chính nhờ căn bệnh ung thư ấy, ngài càng có thể mạnh dạn giơ tay cầu nguyện đến Thiên Chúa.

Quả thật, ngài từng nói: “Khi một người hết lòng cầu xin Thiên Chúa chữa lành căn bệnh của người khác, Thiên Chúa sẽ lắng nghe. Nhưng nếu người ấy tiến xa hơn và thưa: ‘Xin hãy trao cho con căn bệnh ấy,’ thì Thiên Chúa sẽ vô cùng cảm động và ban cho người ấy điều đã được cầu xin. Ngài còn ban thêm cho người ấy một phần thưởng lớn lao, mặc dù người ấy cầu xin như vậy hoàn toàn không phải để được thưởng.”22

Ngài biết mình mắc bệnh ung thư và vui mừng khi kết quả xét nghiệm xác nhận điều đó. Đêm hôm ấy ngài đã có một giấc ngủ vô cùng êm dịu, như ngài kể lại vào sáng hôm sau. Ngài cũng vui khi nghĩ rằng những bệnh nhân ung thư khác có thể được an ủi phần nào khi biết rằng chính ngài cũng đang chịu khổ vì căn bệnh giống như họ. Quả thật, vị Thánh đã “khổ cùng những người khốn khổ”! Ngài đã trở thành “một lễ vật sống”.

Sau khi được bác sĩ chẩn đoán, mỗi ngày ngài đều đến Bệnh viện Theageneio để xạ trị. Ngài xếp hàng cùng với các bệnh nhân ung thư khác và không cho phép người ta dành cho mình bất kỳ sự ưu tiên nào. Khi nhìn thấy những bệnh nhân khác bước ra khỏi phòng xạ trị trong tình trạng hoàn toàn kiệt sức, tâm trí và trái tim ngài luôn hướng về họ cùng với những khó khăn mà họ đang phải gánh chịu. Ngài nói: “Hãy nghĩ mà xem! Họ không thể làm việc, gia đình lại sống trong cảnh nghèo khó; hơn nữa, họ còn phải chịu đựng nỗi đau đớn vì không biết mình sẽ sống hay chết.”23

Bên cạnh nhiều chứng bệnh khác, ngài còn bị xuất huyết nên thân thể vô cùng suy nhược, và trong lần cuối trước khi rời Núi Thánh, ngài thường ngất lịm giữa những buổi gặp gỡ mọi người. Ngày 5 tháng 10 năm 1993, vị trưởng lão rời Núi Thánh yêu mến của ngài lần cuối. Dù chỉ định ở Thessaloniki vài ngày rồi trở về, ngài được chẩn đoán mắc một khối u nghiêm trọng cần phải điều trị ngay. Sau phẫu thuật và trong thời gian hồi phục tại bệnh viện, ngài trở về tu viện Thánh Gioan tại Souroti để sống những ngày cuối đời. Cho đến hơi thở cuối cùng, ngài vẫn lắng nghe nỗi thống khổ của người khác, đưa lời khuyên và hướng dẫn họ trong đời sống tâm linh. Ngài an nghỉ ngày 12 tháng 7 năm 1994; ngài rước lễ lần cuối vào lễ kính Thánh Euphemia yêu mến của ngài, và được an táng một cách giản dị tại Souroti. Trưởng lão Paisios có lẽ là một người được biết đến nhiều nhất trong số các trưởng lão đương thời; ngài đã chiếm trọn tâm trí và trái tim của các tín hữu Chính Thống giáo khắp thế giới.

Ngôi mộ của Thánh Paisios tại Souroti
Ngôi mộ của Thánh Paisios tại Tu Viện Thánh John Thánh Sử tại Souroti
Bài thơ trên ngôi mộ của Thánh Paisios
Trên ngôi mộ của ngài được khắc một bài thơ tuyệt đẹp và giản dị do chính ngài viết, tạm dịch:

Nơi đây cuộc đời đã kết thúc,
Nơi đây và hơi thở tôi (đã kết thúc),
Nơi đây thân thể được chôn cất,
Và linh hồn tôi hân hoan.
Vị Thánh tôi đang sống, đó là niềm vinh dự
Tôi tin ngài sẽ thương xót cho linh hồn thống khổ tôi.
Ngài sẽ cầu nguyện với Chúa Cứu Thế
Để Đức Trinh Nữ Mary sẽ bên tôi.

Nhiều cuốn sách của ngài, chứa đầy những lời giáo huấn, đã được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ, trong đó có nhiều bản bằng tiếng Anh. Ngày 13 tháng 1 năm 2015, Công đồng Thánh của Tòa Thượng phụ Đại kết tại Constantinople đã tôn vinh ngài vào hàng ngũ các Thánh. Ngày nay, các giáo xứ cử hành phụng vụ kính ngài và cung hiến nhiều nhà thờ mang tên của ngài. Tại Limassol, Cyprus, có một ngôi nhà thờ kính Thánh Paisios. Tổng Giáo phận Antioch cũng vừa thiết lập ngôi nhà thờ truyền giáo đầu tiên mang thánh hiệu ngài tại Yuma, Arizona.


Phần hai: Giáo huấn - sẽ được cập nhật


Chú thích

  1. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 10-11. ↩

  2. Thánh Euphemia được kính nhớ vào ngày 16 tháng 9, ngày mà ngài chịu tử đạo. Vào ngày này [11 tháng 7], Giáo hội kính nhớ về quyền năng làm phép mầu nơi Thánh tích vinh danh của ngài, được xuất hiện vào Công đồng Đại kết thứ tư ở Chalcedon. Công đồng được triệu tập dưới triều Hoàng đế Marcian và Hoàng hậu Pulcheria vào năm 451 A.D., sau khi Hoàng đế Theodosius Trẻ qua đời. Nguyên do của việc triệu tập Công đồng Đại kết này là bởi dị giáo của Dioscorus, Thượng phụ thành Alexandria, và Eutyches, Tu viện trưởng từ thành Constantinople, những người đã truyền bá sai lệch rằng nơi Chúa Kitô không có hai bản tính, Thần tính và nhân tính, nhưng chỉ có Thần tính. Tại Công đồng, Anatolius, Thượng phụ thành Constantinople, và Juvenal, Thượng phụ thành Jerusalem đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Sau những cuộc tranh luận và những lời chứng từ hai bên nhưng vẫn không thể đi đến phán quyết, Thượng phụ Anatolius đề nghị rằng cả hai bên, phía Chính Thống giáo và dị giáo, đều sẽ viết một bản tuyên xưng đức tin rồi đặt cả hai vào trong quan tài đang lưu giữ thánh tích Thánh Euphemia. Mọi người đều đồng ý làm như vậy, và cả hai bản tuyên xưng đều được viết và đặt lên trên ngực của vị thánh tử đạo cả. Quan tài được đóng lại, niêm phong bằng ấn của hoàng đế và giao cho quân lính canh giữ. Toàn thể các thành viên trong Công đồng đều dành ra ba ngày, cầu nguyện và ăn chay. Đến ngày thứ tư, khi họ mở quan tài, họ thấy bản tuyên xưng đức tin Chính Thống giáo đã nằm trong bàn tay phải của vị thánh còn bản tuyên xưng phái dị giáo thì nằm ở dưới chân ngài. Như thế, với quyền năng của Thiên Chúa, cuộc tranh luận đã được giải quyết với phần thắng thuộc về đức tin Chính Thống giáo. - trích và dịch từ Prologue from Ohrid, ngày 11 tháng 7. ↩

  3. Mile là đơn vị đo chiều dài của Anh-Mỹ. 1 mile tương đương khoảng 1,609 kilômét. ↩

  4. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 33-34. ↩

  5. Trích và tạm dịch từ On Prayer trong tập IV Spiritual Counsels của Thánh Paisios, trang 21. ↩

  6. Nguyên gốc tiếng Anh là "the Prayer" hay còn gọi là "the Jesus Prayer", "lời cầu nguyện với Chúa Giêsu", nguyên văn lời cầu nguyện: "Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa, xin thương xót con kẻ có tội". ↩

  7. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 62. ↩

  8. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 67. ↩

  9. Dịch tiếng Anh là Idiorrhythmic. Đây là một trong ba hình thức chính của đời sống Tu sĩ trong Chính Thống giáo. Hình thức thứ nhất là đời sống cộng tu (coenobitic monasticism). Trong hình thức này, mọi thành viên của cộng đoàn đều thực hiện mọi sự chung với nhau. Hình thức thứ hai là theo thể chế tự lập (Idiorrhythmic monasticism). Trong đó, các tu sĩ nam hoặc nữ cùng nhau cầu nguyện phụng vụ, nhưng họ làm việc và dùng bữa riêng hoặc theo từng nhóm nhỏ. Trong hình thức này, các tu sĩ có thể hát thánh vịnh hoặc cử hành các giờ kinh riêng, chỉ quy tụ trong lễ Phụng vụ Thánh, và đôi khi ngay cả việc quy tụ ấy cũng chỉ diễn ra tại một vài dịp nhất định. Cuối cùng là đời sống ẩn tu (eremitic monasticism), trong đó các tu sĩ nam hoặc nữ thực sự sống ẩn dật, thường còn được gọi là anchorite hoặc ẩn sĩ. Họ sống hoàn toàn biệt lập và không tham dự vào việc cầu nguyện phụng vụ chung của cộng đoàn, ngoại trừ vào những dịp trọng thể nhất. Trong những trường hợp cực kỳ hiếm, Mình Thánh Thể được đem đến cho những vị tu sĩ sống ẩn dật trọn đời. Dịch theo OCA - Monasticism ↩

  10. Panagia (Hy Lạp: Παναγία), nghĩa là Chí Thánh, là cách gọi Đức Theotokos trong truyền thống Hy Lạp. ↩

  11. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 92. ↩

  12. Thánh Vịnh 36,23 (37,23) ↩

  13. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 95. ↩

  14. Công vụ Tông đồ 6:8 ↩

  15. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 112-113. ↩

  16. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 164-165. ↩

  17. ND: Tại đây Cha Josiah kể về Cha Isaac Atallah (1937-1998), tác giả cuốn tiểu sử đầy đủ nhất về Thánh Paisios:

    Nhiều vị giáo sĩ và tu sĩ đương thời, nay đã ở tuổi sáu mươi, bảy mươi hoặc tám mươi, từng đến đây thăm ngài, bao gồm cả Đức Giám mục đô thành Joseph của chúng ta, người đã quen biết Trưởng lão Paisios và viếng thăm ngài. Chuyến đầu tiên tôi đến Núi Athos là vào năm 1997, trễ hơn ba năm nên không được gặp ngài. Nhiều linh mục và giám mục hiện còn sống đã có thể biết Cha Paisios. Cha linh hướng của Đức Giám mục đô thành Joseph là Tu sĩ Isaac, người sống trong am thất nhỏ đối diện nơi ở của Trưởng lão Paisios, và họ là hai người bạn rất thân. Cha Isaac, một người Lebanon, cũng là tác giả cuốn tiểu sử đầy đủ nhất về Trưởng lão Paisios.

    Cha Alexander Atty, vị linh mục lâu năm của giáo xứ Thánh Michael tại Louisville, Kentucky, về sau là khoa trưởng Chủng viện Thánh Tikhon, là một người con linh hướng của Cha Isaac. Có lẽ mọi người từng nghe tôi kể chuyện Cha Alexander thuở cha còn rất, rất mập. Thật ra, ngài thừa tới 100 pound, và khi cha đến Núi Athos gặp Cha Isaac, và cha Isaac không tiếp. Cha Isaac nhìn qua lỗ cửa, thấy Cha Alexander liền nói: "Không tiếp linh mục béo." Rồi ngài đóng cửa sổ lại. Cha Alexander gõ cửa lần nữa, nhưng Cha Isaac vẫn nói như vậy. Đến lần thứ ba, Cha Alexander vốn nhanh trí và sắc sảo nói: "Thưa cha, chẳng phải cha đến từ ngôi làng nọ ở Lebanon sao? Con cũng quê ở đó." Cánh cửa lập tức mở tung. "Ôi con trai của cha, vào đi, vào đi", và từ đó giữa họ nảy nở một mối quan hệ đẹp đẽ. Suốt nhiều năm, cứ mỗi Mùa Chay, Cha Alexander lại đến thăm cha linh hướng cho đến khi cha thật sự trở nên khoẻ mạnh.

    Trong những năm cuối đời Cha Alexander, tôi thường thấy cha chạy bộ vào sáng sớm. Cha kể rằng sau khi vâng theo lời khuyên của cha linh hướng và giảm cân, cha trở lại thăm Cha Isaac, lúc ấy đang nằm viện tại Thessaloniki, đau yếu và mù lòa vì bệnh tiểu đường. Khi Cha Alexander đến bên giường, Cha Isaac đưa tay nắm lấy cha, và Cha Alexander liền đáp: "Con đây, con đây, Cha Alexander đây." Cha Isaac đáp: "Con nói dối. Con là ai? Con gầy quá." Cha Alexander nói: "Con đã vâng lời cha, đã làm điều cha dặn." Cha Isaac liền bảo: "Con trai của cha, con đợi đến lúc cha hấp hối rồi mới làm sao." ↩

  18. tiếng Anh là with the hesychastic life. Tạm dịch là đời sống cầu nguyện trong thinh lặng. ↩

  19. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 254-255. ↩

  20. Trích Thang Thiên - The Divine Ladder ↩

  21. Trích và dịch từ Saint Paisios of Mount Athos bởi Linh mục Tu sĩ Isaac, trang 257. ↩

  22. Trích và dịch từ Saint Paisios the Athonite trang 523-524. ↩

  23. Trích và dịch từ Saint Paisios the Athonite trang 532. ↩