Muối Của Đất
Muối Của ĐấtTư liệu về Chính Thống giáo Đông phương

Thánh Nicholas của Nhật Bản
bàn về Phật giáo
- Phần 2

Đức Cha Giorgi Maximov
✢
— 21 phút đọc
Thần Học và Biện Giải
Thánh Nicholas của Nhật Bản
Thánh Nicholas của Nhật Bản (+1912)

Dịch từ tiếng Nga bởi OrthoChristian.com (nguồn bài gốc). Chuyển ngữ sang tiếng Việt bởi Muối Của Đất

Đọc phần một tại đây


Những đoạn trích trong nhật ký của ông đã giúp chúng ta hiểu về mối quan hệ giữa Thánh Nicholas và Phật giáo. Điều đặc biệt là những ghi chép này được viết bởi chính một nhà truyền giáo đang hoạt động tại thời điểm đó.

Ví dụ, về chủ đề sự chống đối Kitô giáo của các nhà sư Phật giáo, thánh Nicholas gọi họ là “kẻ thù của Chính Thống giáo,” những người “không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để lợi dụng hoàn cảnh hiện tại nhằm gây rối cho Chính Thống giáo và làm suy yếu Chính Thống giáo—tuy nhiên, cho đến nay họ vẫn chưa thể làm được điều đó.”1

“Trong các bài giảng của mình, các bonza miệt thị Kitô giáo hết mức có thể, nhưng qua đó họ chỉ cho thấy sự bối rối của chính mình, và rằng họ không biết phải làm gì hơn” (II, 205). Giáo lý viên “Paul Okamura kể rằng các bonza thường mặc thường phục đến hỏi ông về Kitô giáo, nhưng sau đó chỉ sử dụng kiến thức họ thu thập được để xuyên tạc và biến nó thành đối tượng để chế giễu. Xung quanh [giáo lý viên] Matsuda, bonza đã hình thành các buổi tụ họp thường xuyên, luôn luôn báng bổ Kitô giáo một cách không thể chịu đựng được và cấm người khác lắng nghe ông. Theo Matsuda điều này mang lại kết quả hoàn toàn ngược lại: nó chỉ khơi dậy sự tò mò của mọi người và họ đến để hỏi về Kitô giáo” (II, 223).

Đáng chú ý là vị thánh không hề bị xao động bởi những biểu hiện hung hăng này từ Phật giáo, và coi đó là dấu hiệu của sự yếu kém nội tại của Phật giáo trước Kitô giáo. Ông viết, “Ở Ebishima, một lòng thù ghét đặc biệt mạnh mẽ đối với Kitô giáo đã được khơi dậy, và thậm chí một hội đoàn đã được thành lập để bảo vệ Phật giáo chống lại Kitô giáo; nhưng điều này chỉ là dấu hiệu cho thấy giáo lý của Đấng Kitô đang bắt đầu chiếm lĩnh sâu hơn trong tâm trí người dân. Ngược lại, có không ít người ngoại giáo, thậm chí vẫn chưa đến Kitô giáo, lại trở thành người bảo vệ nó trước những cuộc tấn công đầy giận dữ” (III, 383). “Ở Nakatsu... bonza rất lo lắng về sự thành công của Kitô giáo—họ đã thành lập một liên minh chống lại Kitô giáo, giảng đạo và chửi rủa nó. Thật đúng lúc! Họ đang làm việc công ích cho Kitô giáo bằng cách phổ biến nó; Phật giáo không có khả năng chống lại nó” (IV, 31). Và thật sự, ngay sau đó tin tức từ Nakatsu về những người cải đạo sang Chính Thống giáo đã đến, “trong đó có một người từng là Phật tử sùng đạo, và giờ đây ông ta là một Kitô hữu cũng nhiệt thành không kém” (IV, 65).

Về phần ông, Thánh Nicholas hướng dẫn các giáo lý viên “không được xúc phạm đến Phật giáo hay các tín ngưỡng địa phương khác trong các bài giảng” (II, 393). Một lần khác, ông khiển trách một giáo lý viên: “Matsunaga đã không đúng khi nói chống lại và xúc phạm Phật giáo; chúng ta không nên làm điều đó trong các bài giảng của mình. Nhiệm vụ của chúng ta là giảng dạy giáo lý Kitô giáo. Khi giáo lý này đã được hiểu, thì Phật giáo sẽ tự khắc bị loại trừ. Cãi nhau chống đối nó quá sớm chỉ khiến con đường đến Kitô giáo khép lại trong lòng nhiều người nghe, làm họ tức giận và khiêu khích họ chống lại nó” (II, 600).

Ông mô tả cách “trên tờ báo Phật giáo Yamato-Simbun, hàng ngày có hai bài báo được in với những lời dối trá và vu khống trơ trẽn nhất chống lại sứ mệnh và các tín đồ Chính Thống giáo… Chúng tôi không bao giờ đáp lại những cuộc tấn công này” (IV, 907). Trong Chiến tranh Nga-Nhật, “các bonza Phật giáo, dưới vỏ bọc của lòng yêu nước quân sự, đã bắt đầu một cuộc đàn áp chống lại Giáo Hội Chính Thống giáo... các cựu bonza hoặc những bonza mặc thường phục đã có những bài phát biểu kích động chống lại tôi và sứ mệnh trong các cuộc tụ họp được tổ chức đặc biệt cho mục đích này” (V, 8).

Hoạt động này không chỉ giới hạn ở các cuộc tấn công bằng lời nói. Vị thánh trích dẫn các ví dụ về việc các Phật tử tấn công các tín hữu Kitô giáo bằng các cuộc tàn phá và đánh đập ở Shirankava (xem: II, 787), và cả trong chiến tranh Nga-Nhật ở Kayama vì các tín hữu Kitô giáo từ chối tham gia cầu nguyện Phật giáo cho chiến thắng của Nhật Bản (xem: V, 62). Một lần khác, các Phật tử địa phương tịch thu đất đai của người Chính Thống giáo và đề nghị trả lại chỉ khi họ quay lại với Phật giáo (xem: II, 484-484). Ông nhớ lại một sự kiện xảy ra với Peter Osida, trước đây là một tu sĩ Phật giáo, người đã chịu “sự ngược đãi từ các giáo dân cũ của mình vì đã phản bội Phật giáo, nhưng ông vẫn chịu đựng một cách kiên định” (IV, 221). Ở Sukava, hai người cha Phật tử đã đánh đập và hành hạ con trai của mình vì họ đã quyết định nhận Chính Thống giáo, nhưng những người con này đã thể hiện lòng can đảm lớn lao. Về điều này, vị thánh ghi chú, “Cha của những người bị ngược đãi sẽ sớm trở thành Kitô hữu. Đây là điều đã được chứng minh qua kinh nghiệm. Nơi nào Đấng Kitô đối đầu với Phật đến mức phát ra một tiếng động lớn như tiếng hét, hãy lắng nghe, bạn sẽ nghe thấy ngay sau đó không phải là tiếng hét, mà là tiếng vỡ tan của tượng Phật” (IV, 50).

Nhiều lần vị thánh nhắc đến hình ảnh đạo đức thấp kém của giới tăng lữ Phật giáo ở Nhật Bản. Một nông dân giàu có đã nói với Thánh Nicholas rằng: “ông ta đã bắt đầu căm ghét các bonza thu tiền cho nhu cầu tôn giáo, rồi tiêu pha một nửa số tiền đó trong các nhà chứa” (IV, 506). Ngài cũng tình cờ trích dẫn các ví dụ về bonza thu hút người khác bằng cuộc sống khổ hạnh của họ” (II, 351).

Thánh Nicholas viết rằng, trái ngược với Nho giáo và Thần đạo (Shintoism), Phật giáo vẫn có những tín đồ chân thành ở Nhật Bản; tuy nhiên, ông nhận thấy dấu hiệu suy tàn, đặc biệt là trong bối cảnh lan rộng của chủ nghĩa vật chất, và ông cho rằng thời kỳ của Phật giáo ở đất nước này đã qua. “Nó đang suy tàn; rõ ràng là nó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và đã đến lúc nó phải nhường chỗ” (II, 28). “Phật giáo không có nền tảng vững chắc cho đức tin, không có ai để họ tin tưởng; đó là lý do tại sao Phật giáo đang suy tàn” (III, 222). Một lần khác, khi bình luận về sáng kiến thành lập các câu lạc bộ để hỗ trợ giáo lý Phật giáo, ông nhận xét: “Nhưng Phật giáo vẫn chỉ là một cái xác, và không thể phục sinh được bằng bất cứ cách nào khi bình minh của Kitô giáo đã đến Nhật Bản” (III, 801).

Trong một cuộc phỏng vấn với một tờ báo Nhật Bản, vị thánh tiếp tục suy nghĩ này, trả lời câu hỏi của nhà báo: “Phật giáo đang hồi sinh. Ông nhìn nhận điều này thế nào?” Câu trả lời của ông: “Giống như bao lời khoác lác khác, Phật giáo đã chết ở Nhật Bản; người Nhật đã vượt qua tôn giáo không có Thượng đế cá nhân (personal God) này; thật vô ích khi họ diễn giải rằng nó vẫn còn sống và đang được khơi dậy để hành động mạnh mẽ. Đây là lời khoác lác trống rỗng của các bonza, những người không tin vào những lời họ nói” (IV, 641). “Phật giáo đã đạt đến mức độ vô lý cuối cùng ở Nhật Bản, một sự mâu thuẫn hoàn toàn với chính nó, và dễ dàng bị bác bỏ dựa trên lý lẽ đơn giản của lẽ thường” (IV, 705).

Đáng chú ý là các xu hướng tiêu cực đối với Phật giáo trong xã hội Nhật Bản mà Thánh Nicholas đã dự đoán thực sự đã gia tăng mạnh mẽ trong thế kỷ hai mươi và hai mươi mốt, và các ấn phẩm trên các tờ báo hiện đại đã chứng minh điều này. Ví dụ, tác giả của một bài báo trích dẫn lời các nhà sư về việc “Phật giáo hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng ở Nhật Bản,” và cần có các biện pháp quyết liệt để đảm bảo sự tồn tại của nó. Sư Tansho Tagai đề xuất rằng một trong những biện pháp này là tụng kinh theo nhạc hiện đại, trong khi sư Zensin nói về việc tạo lập các quán bar Phật giáo.2 Một bài báo khác nói về cuộc khủng hoảng trong Phật giáo, kể câu chuyện về sư Keisuke Matsumoto, trụ trì chùa Komiodzi, nơi ông đã mở một quán cà phê để thu hút mọi người. Người ta ghi nhận rằng mặc dù gần ba phần tư dân số chính thức tự coi mình là Phật tử, nhưng “nhiều ngôi chùa trong số 75 nghìn chùa ở Nhật Bản đang trên bờ vực phá sản.”3

Thánh Nicholas cũng đề cập đến hoạt động Phật giáo ở các quốc gia khác; ví dụ, khi mô tả phong trào Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc, ông viết với một sự mỉa mai nhất định rằng các Phật tử “đã khai thác cho tôn giáo của họ tất cả nguồn lợi mà họ có thể khai thác được từ những vấn đề phức tạp của người Trung Quốc. Họ chỉ để lại duy nhất một câu hỏi chưa được trả lời, đó là: Liệu các võ sĩ có phải là Phật tử không? Nếu có, thì làm thế nào Phật giáo tránh được trách nhiệm về sự tàn bạo khủng khiếp của họ?” (IV, 491). Đồng thời ông bày tỏ sự kính trọng to lớn đối với sự kiên định của các tín hữu Kitô giáo Trung Quốc, những người đã chết như những vị tử đạo vì Đấng Kitô trong cuộc nổi loạn này.

Các Thánh Tử Đạo Trung Quốc
Các Thánh Tử Đạo Trung Quốc trong phong trào Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900. Trong số những tín hữu đã tử đạo, Thánh Metrophan là vị linh mục Trung Quốc bản địa đầu tiên và được chính Thánh Nicholas của Nhật Bản truyền chức.

Vị thánh cũng biết về xu hướng cải đạo Phật giáo mới nổi của người phương Tây: “Cũng có các bonza ở San Francisco giảng dạy Phật giáo, và có một số người Mỹ cải đạo. Các ngôi chùa đã được xây dựng trên quần đảo Hawaii; các bonza ở đó bắt chước các nhà truyền giáo Kitô giáo—họ có các buổi lễ và bài giảng vào Chủ nhật, và làm công tác từ thiện” (IV, 459). Giống như những gì Thánh Nicholas đã nhận thấy về sự lan rộng của Phật giáo ở Nhật Bản, chúng ta thấy ở đây một sự linh hoạt tương tự trong việc truyền giáo của Phật giáo.

Thánh Nicholas cũng nhắc đến “Otani Kozui, người đứng đầu tông phái Phật giáo Nishi Honganji. Ông ấy được giáo dục ở Anh… hiện là người tốt nhất trong Phật giáo cả về mặt đạo đức và hoạt động; ông gửi các nhà truyền giáo để giảng dạy Phật giáo ở các nước Kitô giáo, và ở Mỹ đã có nhiều người cải đạo sang Phật giáo” (V, 499). Ngài viết rằng ở Ninai “Các bonza … truyền đạo cho người dân địa phương rằng, ‘Ngay khi có người ngoại quốc xuất hiện ở đây, hãy cải đạo họ sang Phật giáo, vì Kitô giáo có là gì so với Phật giáo!’” (IV, 120).

Đáng chú ý là câu chuyện về việc cố gắng cải đạo người Ain, một dân tộc bản địa từ quần đảo Kuril, những người đã nhận Chính Thống giáo từ Thánh Innocent của Alaska khi các đảo này còn là một phần của Đế quốc Nga (chúng được nhượng lại cho Nhật Bản năm 1855) (xem: IV, 79, 174, 283). Một bonza đã định cư từ Honganji đến đảo Shikotan với mục đích truyền giáo. Từ năm 1899 đến 1902, ông đã nỗ lực rất nhiều để truyền bá Phật giáo cho những người Kuril theo Chính Thống giáo, với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, những người coi đây là việc quan trọng để cắt đứt mọi ảnh hưởng có thể từ Nga đối với những người dân địa phương. Nhà truyền giáo đã nỗ lực tối đa để thích nghi lời giảng của mình với thính giả, sử dụng những phương pháp tương tự đã giúp Phật giáo thâm nhập và bám rễ ở Nhật Bản. “James kể rằng các bonza, vẫn sống trên đảo Shikotan, cố gắng làm bối rối các tín hữu Chính Thống giáo trên đảo Shikotan và lôi kéo họ vào Phật giáo: ‘Chúa của các ông và Thần của chúng tôi là một và giống nhau, nhưng bây giờ các ông là người Nhật, và vì vậy điều hợp lý là các ông nên có đức tin Nhật Bản vốn gần giống như đức tin hiện tại của các ông,’ ông ấy khăng khăng với họ. Tốt lành thay, người dân Shikotan không ngu muội trong đức tin của họ và tâm hồn họ trung thành với đức tin ấy. Họ chỉ cười nhạo vào các bonza” (IV, 353).

Thánh Innocent của Alaska
Thánh Innocent của Alaska (+1879)

Ba năm truyền đạo của nhà truyền giáo Phật giáo không cải đạo được một người nào, và sau đó “khi nhận thấy nỗ lực của họ để cải đạo các Kitô hữu (Kuril) sang Phật giáo hoàn toàn vô ích, các bonza đã rời đi Saykeo” (IV, 701).

Trong khi đó, Thánh Nicholas cũng biết về những người châu Âu và người Mỹ đã tiếp nhận Phật giáo. Ông nhớ lại một người Anh đã qua đời ở Nhật Bản sau khi chuyển sang Thiền tông Phật giáo như một “kẻ bội đạo bất hạnh mãi mãi” (V, 348), và một người Mỹ, Fenolossa, đã trở thành một Phật tử (xem: V, 595). Ông phản ứng mạnh mẽ với Tướng Henry Olcott, “người đã cải đạo sang Phật giáo và thậm chí còn soạn ra giáo lý Phật giáo” (III, 560). Tất cả những điều này đối với vị thánh đều là vô lý với mức độ cao nhất. Nhận thấy sự gần gũi của triết lý Schopenhauer với Phật giáo, Thánh Nicholas lý giải rằng, thông qua đó, “Phật giáo đã xâm nhập qua mép sương mù vào một số cái đầu trống rỗng ở châu Âu và Mỹ” (II, 304).

Trong những ghi chép khác, ông chỉ ra rằng, thứ nhất, khi hướng đến người phương Tây, bản thân Phật giáo đã bắt chước môi trường Kitô giáo theo nhiều cách; và mặt khác, chính những người cải đạo mới này lại đem vào Phật giáo những ý tưởng và khái niệm xa lạ với nó. Trong bối cảnh này, nhận xét của Thánh Nicholas về cuốn sách của một trong những nhà truyền giảng Phật giáo nổi tiếng của thời đó rất đáng chú ý: “Đại sứ Mikhail Alexandrovich Khitrovo mang đến một cuốn giáo lý Phật giáo tiếng Đức... Tác giả là một người Đức tự đặt mình vào hàng ngũ những người hâm mộ Phật giáo phiếm thần, nhưng đồng thời ông không thể từ bỏ đức tin vào một Thiên Chúa Cá Nhân mà ông đã nhận được với dòng sữa mẹ, và đó là lý do tại sao ông nói trong cuốn giáo lý của mình về một quyền lực cai quản thế giới và loại trừ các sự cố trên thế giới, mà Mikhail Alexandrovich của chúng ta, phần nào bị mê hoặc bởi Phật giáo, đã ghi chú ở lề, “Đồ Ngốc!” (III, 229).

Thánh Nicholas dường như đang đề cập đến cuốn sách Subhadra Bhikchu Buddhistischer Katechismus zur Einfuhrung in die Lehre des Buddha Gotamo (Leipzig, 1888), được viết để mô phỏng theo Giáo lý Phật giáo của Olcott. Đằng sau bút danh Tu sĩ Subhadra là nhà toán học Friedrich Zimmermann ở Berlin (1852-1917).4

Vị thánh cũng phản ứng một cách tiêu cực với ý tưởng mà ông nghe được về việc tạo ra một sự lai tạp giữa Kitô giáo và Phật giáo, và chỉ ra “sự ngớ ngẩn của một nỗ lực như vậy, và việc so sánh giữa chân lý của đức tin Thiên Chúa với phát minh của con người là bất khả thi” (III, 363).

Thánh Nicholas cũng đồng tình với lời của khách thăm “đã so sánh Kitô giáo với Phật giáo và thấy chúng là đối lập hoàn toàn” (III, 804). Đôi lúc, vị thánh phải bác bỏ quan điểm phổ biến lúc bấy giờ trong giới trí thức phương Tây và Nga rằng Kitô giáo được xây dựng dựa trên các ý tưởng vay mượn từ Phật giáo. Ông mô tả cuộc trò chuyện của mình với vợ của Đô đốc Schmidt. Khi bà ấy nói về sự gần gũi của giáo lý đạo đức của Phật giáo so với Kitô giáo, Thánh Nicholas đáp, “ ‘Quả thật, giáo lý đạo đức của Phật giáo có một số nét tương đồng với tôn giáo của chúng ta; và ngoại giáo nào lại không có điều đó? Giáo lý đạo đức của người ngoại giáo được rút ra từ lương tâm, thứ mà họ vẫn chưa đánh mất.’ ‘Nhưng họ nói rằng giáo lý của Đấng Kitô được vay mượn từ Phật giáo.’ ‘Chà, đây là những gì người ta nói khi không hiểu rõ cả Phật giáo lẫn Kitô giáo.’ ‘Không—tại sao Đấng Kitô không thể vay mượn gì đó từ Phật giáo nếu Ngài muốn? Ngài (Đấng Kitô) là một người thông minh.’ ‘Đấng Kitô là Thiên Chúa và Ngài giảng dạy giáo lý của mình như một điều răn của Chúa; Phật, cũng như mọi thứ trên thế gian và toàn bộ thế gian này, đều không là gì trước mặt Ngài,’ tôi cắt ngang lời bà, để ngăn chặn dòng chảy rác thải từ cống rãnh tâm trí của một vị tướng... Vì vậy, tầng lớp thượng lưu ở Nga thật là không hiểu biết ... trong những vấn đề liên quan đến đức tin” (II, 296).

Đồng thời, vị thánh cũng hoài nghi về những ý tưởng trong biện giải thần học về các khía cạnh trong cuộc đời của Phật được cho là vay mượn từ Tin Mừng. Nhận xét về một bài giảng mà ông nghe từ nhà thuyết giáo Tin Lành Spencer, Thánh Nicholas viết rằng có “không có ít nghịch lý; ví dụ, giả định rằng cuộc đời của Phật được sao chép từ cuộc đời của Đấng Cứu Thế. Ông ấy nên chứng minh điều đó” (IV, 167).

Từ những cuộc trò chuyện với những người cải đạo, Thánh Nicholas hình thành quan điểm rằng Phật giáo không đáp ứng được nhu cầu của một tâm hồn với cảm giác tôn giáo sống động. Ông trích dẫn câu chuyện về một gia đình: “Yuki và vợ ông đều tin vào Phật giáo. Khi không tìm thấy trong Phật giáo một Thượng Đế 'cá nhân', ông mất niềm tin vào nó và rất vui mừng khi tìm thấy Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa và sự Quan Phòng của Ngài trong Kitô giáo, mà ông tình cờ được biết khi có được một cuốn Kinh Thánh. Ông bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa của Kitô giáo, và lời cầu nguyện nhiệt thành của ông thậm chí còn được kết thúc bằng một phép màu: vợ ông bị bệnh đến mức không thể đứng dậy. Ông cầu nguyện tha thiết cho sự chữa lành của bà, và bà ngay lập tức đứng dậy khỏe mạnh, khiến mọi người kinh ngạc” (IV, 208). Chính việc Kitô giáo mang lại cho con người không chỉ là một “ý niệm về Thiên Chúa”, mà còn là một mối liên kết sống động với Ngài, điều này trong mắt Thánh Nicholas làm nổi bật sự khác biệt cơ bản với Phật giáo. Điều này được giải thích bằng bình luận của thánh rằng, “Về mặt tôn giáo, Phật giáo thực chất là trống rỗng, vì tôn giáo nào có thể tồn tại mà không có Thượng Đế?” (III, 443).

Thánh Nicholas đã nhiều lần nói về việc cầu nguyện của Phật giáo: “Lời cầu nguyện của họ là vô ích, vì họ cầu nguyện với thứ không tồn tại” (V, 571); “Lời cầu nguyện của họ là vô dụng và đáng thương, vì cây cỏ và đá hay một không gian trống rỗng, những thứ mà họ hướng lời cầu đến các thần và các phật, những thứ không tồn tại, không thể thấy hay nghe họ, và không thể giúp đỡ” (II, 175).

Đáng tiếc là nghiên cứu của Thánh Nicholas (Kasatkin) về Phật giáo Nhật Bản đã hoàn toàn không được chú ý bởi các tác giả Chính Thống giáo, mặc dù nó có thể bổ sung đáng kể kiến thức của họ về nhiều xu hướng khác nhau trong tôn giáo này. Sự chú ý đầu tiên đến quan điểm của Thánh Nicholas về Phật giáo chỉ xuất hiện muộn vào thế kỷ XXI: A. Larionov trong một bài viết ngắn đã đưa ra cái nhìn tổng quan về bình luận của vị thánh, gần như hoàn toàn dựa trên Nhật ký của ông.5 Ông viết rằng “những bình luận về Phật giáo rất hiếm, và mang tính chất thực tiễn thuần túy. Kết luận cơ bản là: Phật giáo đã hoàn thành vai trò bảo mẫu trong một thời gian dài, chuẩn bị cho người Nhật tiếp nhận Chân Lý... Đây là lời 'tiên tri trong gương', đã dạy cho người Nhật yêu thương nhau và hiểu được sự phù phiếm của cuộc đời. Giờ đây, nó cần được gác sang một bên, vì sự trọn vẹn của ân điển đã đến.”6

Linh Mục George Maximov

15/08/2014

Xem Phần một

Chú thích

  1. Thánh Nicholas của Nhật Bản, Nhật ký 1970-1911 trong năm tập (St. Petersburg, 2007), 5:43. Các trích dẫn tiếp theo từ nhật ký của thánh được trích dẫn từ ấn phẩm này với số tập và trang được chỉ định trong ngoặc đơn—theo cách đánh số La Mã và Ả Rập. ↩

  2. I. Belovsky, “Rap và linh hồn với cứu rỗi Phật giáo,” www.gazeta.ru. ↩

  3. Chùa Phật giáo Nhật Bản, www.sunhome.ru. ↩

  4. Fruhwirtz A., Der Lotus im Treibhaus: Transfer und Transformation des Buddhismus oder Eine “Religion der Vernunft und der Wissenschaft” betritt deutschen Boden (Tương Tác, 7: Bern, 2004), 319. ↩

  5. Xem: A. Larionov, “Đặc điểm của việc tiếp nhận thánh Nicholas (Kasatkin) về Phật giáo,” Alpha i Omega, 2005, số 3 (44). ↩

  6. Như trên. ↩